|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH Bản án số: 135/2024/DS-ST Ngày: 28-8-2024 V/v tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Yến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Văn Mum;
Ông Trần Văn Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1950; cư trú tại: Ấp C, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Bửu T, sinh năm 1982; cư trú tại: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1968 và ông Phan Văn T1, sinh năm 1964; cùng cư trú tại: Ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (bà H vắng mặt, ông T1 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17-10-2023, Đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 31-5-2024 và các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Nguyễn Bửu T trình bày:
Bà L có đất giáp ranh với đất của vợ chồng ông T1, bà H. Phần đất diện tích 1001,8m², thửa đất số 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của bà Dương Thị N (chị ruột bà H), sinh năm 1964; địa chỉ: ấp L, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ngày 23-11-2021 bà L đã nhận chuyển nhượng của bà N phần đất diện tích 1001,8m² trên. Khi nhận chuyển nhượng, đất đã cắm sẵn trụ ranh, phía giáp đường thì không có cắm trụ ranh nhưng ranh đất được thể hiện là đường bờ. Thời điểm này, bà N và mẹ bà N là bà Nguyễn Thị M có chỉ vị trí ranh đất cho anh và anh có kiểm tra lại đủ diện tích nên bà L (mẹ ruột của anh) đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS11128 ngày 09-12-2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, bà Hồ Thị L đứng tên thì bà L được quyền sử dụng phần đất diện tích 1001,8m², thửa đất số 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, diện tích đất thực tế sử dụng ít hơn do vợ chồng bà H, ông T1 lấn chiếm. Theo kết quả đo đạc áp lên bản đồ địa chính thì phần đất tranh chấp gồm 02 phần, phần thứ nhất diện tích 121m² bà H, ông T1 dựng chòi lá chắn cả lối đi vào trong đất (thửa 572), phần thứ hai có diện tích 88m² bà H, ông T1 hiện đang trồng cỏ.
Theo Đơn khởi kiện thì bà L yêu cầu vợ chồng ông T1, bà H trả lại diện tích 112,4m², thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Nay bà L yêu cầu ông T1, bà H di dời chòi tạm, 10 bó chà le khô để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 209m² (121m² + 88m²), trong thửa 572 trên.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Văn T1 trình bày:
Ông không quen biết bà L. Ông và vợ là bà Dương Thị H đang quản lý, sử dụng phần đất diện tích 925,2m², thửa đất 573, tờ bản đồ số 42; tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03519 ngày 12-5-2010 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp, ông và bà Dương Thị H đứng tên, phần đất này giáp ranh với đất của anh T. Phần đất của vợ chồng ông và đất anh T từ trước đến nay không cắm trụ ranh nhưng đất anh T là đất nền cao, phần đất của vợ chồng ông là đất ruộng thấp.
Phần đất hiện đang tranh chấp có nguồn gốc là của mẹ vợ ông là bà Nguyễn Thị M, sau đó bà M cho bà Dương Thị N (chị ruột bà H), bà N chuyển nhượng lại cho anh T (con bà L). Khi chuyển nhượng, bà M có chỉ vị trí ranh đất cho anh T nhưng không cắm trụ ranh. Sau đó, anh T cắm trụ lấn sang đất của vợ chồng ông nên ông không đồng ý cho anh T cắm trụ ranh.
Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L vì phần đất hiện đang tranh chấp diện tích 209m² là đất ruộng thấp, thuộc thửa 573, vợ chồng ông đã quản lý, sử dụng từ năm 1981 cho đến nay. Khi chuyển nhượng bà M (mẹ vợ ông) đã chỉ vị trí đất bán là đất gò cao, phần đất còn lại dưới ruộng thấp là của vợ chồng ông.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Dương Thị H trình bày:
Bà và bà L là hàng xóm, không có quan hệ họ hàng gì, ông T1 là chồng của bà. Vợ chồng bà đang quản lý, sử dụng phần đất diện tích 925,2m², thửa đất 573, tờ bản đồ số 42; tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, phần đất này giáp ranh với đất của bà L.
Phần đất bà L đang quản lý, sử dụng có diện tích 1001,8m², thửa 572, tờ bản đồ 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của mẹ bà là bà Nguyễn Thị M, sau đó bà M cho chị ruột bà là bà Dương Thị N, bà N chuyển nhượng lại cho anh T (con bà L). Khi chuyển nhượng, mẹ bà có chỉ vị trí ranh đất cho anh T nhưng không cắm trụ ranh. Sau đó, anh T cắm trụ lấn sang đất của bà nên bà không đồng ý cho cắm trụ ranh.
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L vì phần đất diện tích 112,4m² là đất ruộng thấp, thuộc thửa 573, vợ chồng bà đã quản lý, sử dụng từ năm 1981 cho đến nay. Khi chuyển nhượng mẹ bà đã chỉ vị trí đất bán là đất gò cao, phần đất còn lại dưới ruộng thấp là của vợ chồng bà.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đương sự đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H.
Buộc ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H trả lại cho bà Hồ Thị L phần đất diện tích 209m², gồm 02 phần: phần thứ nhất diện tích 121m² và phần thứ hai diện tích 88m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Dương Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H là phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà L khởi kiện yêu cầu ông T1, bà H trả lại diện tích đất 112,4m², thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên cần xác định lại quan hệ tranh chấp là “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” và đất tranh chấp tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên đây là vụ án tranh chấp đất đai và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
[3.1] Theo Đơn khởi kiện, bà L khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T1, bà H trả lại diện tích 112,4m², thuộc thửa đất số 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Nay bà L yêu cầu ông T1, bà H di dời chòi tạm, 10 bó chà le khô để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm 209m² (121m² + 88m²), trong thửa 572 trên. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về nguồn gốc đất: Cả anh T, ông T1 và bà H đều xác định phần đất tranh chấp diện tích 209m² (121m² + 88m²) trên có nguồn gốc là đất của bà Dương Thị N (chị ruột bà H).
[3.3] Qua đo đạc và xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện: Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 209m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ số 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, trong đó: phần thứ nhất diện tích 121m², tài sản trên đất gồm có: 04 trụ cây tạm, mái che bạc do ông T1, bà H xây dựng (tại thời điểm định giá thì mái che bạc không còn) và 10 bó chà le khô của ông T1, bà H; phần đất diện tích 88m² là đất trống.
Theo kết quả định giá thì phần đất tranh chấp 209m² có giá 48.906.000 đồng, tài sản trên đất không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng định giá không định giá.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Ông T1, bà H khai bà N chỉ chuyển nhượng cho anh T phần đất nền cao có nhà trong thửa 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, không chuyển nhượng cho bà L và phần đất tranh chấp không chuyển nhượng. Anh T cho rằng khi bà L mua là mua trọn thửa 572, phần đất tranh chấp diện tích 121m² là lối đi để vô đất nên không có việc bà L chỉ mua đất nền cao có nhà, khi mua bà N và mẹ bà N có chỉ vị trí ranh đất, anh có kiểm tra lại đủ diện tích nên bà L đồng ý nhận chuyển nhượng.
[4.2] Qua xác minh bà Dương Thị N (chị ruột bà H) thể hiện bà N chỉ chuyển nhượng phần đất gò cao có nhà, phần đất tranh chấp không có bán nhưng theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện bà Dương Thị N được quyền sử dụng diện tích đất 1001,8m², thửa 572, tờ bản đồ 42, tọa lạc ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10091 ngày 06-8-2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, bà Dương Thị N đứng tên. Ngày 23-11-2021 bà N chuyển nhượng cho bà Hồ Thị L diện tích 1001,8m², thửa 572 trên và bà L đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS11128 ngày 09-12-2021 đối với diện tích 1001,8m², thửa 572 trên. Theo kết quả đo đạc áp lên bản đồ địa chính thì phần đất tranh chấp có tổng diện tích gồm 02 phần: phần thứ nhất diện tích 121m² và phần thứ hai diện tích 88m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ số 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là có cơ sở chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự: Do yêu cầu khởi kiện của bà L được chấp nhận nên ông T1, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của bà L được chấp nhận nên căn cứ Điều 157, 158, 165 và 166 Bộ luật tố tụng dân sự ông T1, bà H phải chịu 8.700.000 đồng. Do bà L đã nộp số tiền 8.700.000 đồng nên ông T1, bà H có nghĩa vụ nộp trả lại bà L số tiền 8.700.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, 203 của Luật đất đai; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị L về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H.
2. Buộc ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Hồ Thị L quyền sử dụng đất sau:
- Quyền sử dụng đất diện tích 121m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 249043, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS11128 ngày 09-12-2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, bà Hồ Thị L đứng tên; đất có tứ cận như sau: Đông giáp đường đất dài 2,54m; Tây giáp phần đất còn lại của thửa 572 dài 4,26m; Nam giáp thửa số 8, tờ bản đồ 49 dài 39,28m; Bắc giáp thửa 573 dài 37,70m. (có sơ đồ kèm theo)
- Quyền sử dụng đất diện tích 88m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ 42 (BĐ 2005), tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 249043, số vào số cấp giấy chứng nhận: CS11128 ngày 09-12-2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, bà Hồ Thị L đứng tên, đất có tứ cận như sau: Đông giáp thửa 573 dài 29,29m; Tây giáp phần đất còn lại của thửa 572 dài 27,07 + 24,11m; Bắc giáp thửa 567 dài 10,95m; giáp thửa 566 dài 18,04m. (có sơ đồ kèm theo)
3. Buộc ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H xử lý, di dời, tháo dỡ, thu dọn, nhổ đi nơi khác các tài sản: 04 trụ cây tạm, 10 bó chà le khô ra khỏi phần đất diện tích 121m², loại đất HNK, trong thửa 572, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 249043, số vào số cấp giấy chứng nhận: CS11128 ngày 09-12-2021 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, bà Hồ Thị L đứng tên.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Hồ Thị L được miễn nộp tiền tạm ứng án phí và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về chi phí tố tụng: Ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H phải chịu 8.700.000 đồng chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, ghi nhận bà Hồ Thị L đã nộp đủ số tiền 8.700.000 đồng. Ông Phan Văn T1, bà Dương Thị H có nghĩa vụ trả lại cho bà Hồ Thị L số tiền 8.700.000 (tám triệu bảy trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
6. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
7. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Phương Yến |
Bản án số 135/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 135/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị L - Dương Thị H
