Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

********

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

********

Bản án số: 135/2024/HSST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai, bà Nguyễn Thị Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Tô Việt Anh - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 116/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Thị Thu V Sinh năm: 1974

    Tên gọi khác: Không.

    HKTT: P910 A6, tập thể Giảng Võ, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

    Nơi ở: Phòng 1006 tòa 103B Chung cư Splendora Bắc An Khánh, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Tự doTrình độ học vấn: 12/12

    Họ tên cha: Đặng Ngọc V1

    Họ tên mẹ: Bùi Thị N

    Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất.

    Họ tên chồng: Nguyễn Sỹ Q – Sinh năm: 1973 (Đã ly hôn)

    Có 02 con: Lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009

    TATS: Không

    Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Đinh Xuân T Sinh năm: 1973

    Tên gọi khác: Không.

    HKTT: P1306 C3 – tổ 10, phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

    Nơi ở: Phòng 1006 tòa 103B Chung cư Splendora Bắc An Khánh, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

    Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Tự doTrình độ học vấn: 12/12

    Họ tên cha: Đinh Tiến H

    Họ tên mẹ: Bùi Thị T1

    Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất.

    Họ tên vợ: Nguyễn Thị T2 – Sinh năm: 1973

    Có 02 con: Lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2006

    TATS: Không

    Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Sỹ Q Giới tính: Nam Sinh năm: 1973

    HKTT: P1406 tòa Legacy, A N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội.

  2. Ông Nguyễn Văn L Giới tính: Nam Sinh năm: 1975

    HKTT: Tổ A P, phường P, quận H, Hà Nội.

    Địa chỉ văn phòng: Văn phòng công chứng miền B, số A T, Q, H, Hà Nội.

  3. Ông Phạm Ngọc A Giới tính: Nam Sinh năm: 1984

    HKTT: Xóm V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Đều vắng mặt)

* Người bào chữa cho các bị cáo Đặng Thị Thu V, Đinh Xuân T:

Bà Vũ Thị Kiều A1 – Luật sư Công ty L2 – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Địa chỉ: Số 14 NV1, M Str S, KĐT The Manor Central Park, N, phường Đ, quận H, Hà Nội.

(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:

Ngày 22 tháng 6 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Sỹ Q (Sinh năm: 1973, HKTT: P1406 tòa Legacy, A N Kon Tum, phường N, quận T, Hà Nội) tố giác Đặng Thị Thu V và Đinh Xuân T có hành vi Làm giả giấy tờ, tài liệu: Năm 2003, anh Nguyễn Sỹ Q và Đặng Thị Thu V kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 136/2003 do Ủy ban nhân dân phường N, quận B, thành phố Hà Nội cấp. Ngày 23/3/2020, anh Q và V thống nhất mua một căn hộ chung cư số 04, tòa nhà C, khu đô thị D, H, Hà Nội theo hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số: B3204/CT6B/HĐMBCH ký ngày 23/3/2020 với Công ty cổ phần T6, khi ký hợp đồng V là người đứng tên mua căn hộ trên. Mặc dù căn hộ trên là tài sản chung của anh Q và V nhưng qua kiểm tra, anh Q phát hiện V và Đinh Xuân T đã làm giả giấy chứng nhận kết hôn mang tên Đặng Thị Thu V là vợ, Đinh Xuân T là chồng cùng các giấy tờ có liên quan để làm thủ tục chuyển nhượng căn hộ trên cho anh Phạm Ngọc A (Sinh năm: 1984, HKTT: xóm V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang) theo hợp đồng số: 1060/2021/HĐGD ngày 18/3/2021 tại Văn phòng C, địa chỉ: Số A T, Q, H, Hà Nội do anh Nguyễn Văn L (Sinh năm: 1975, HKTT: TỔ A phường P, quận H, Hà Nội) là công chứng viên đã ký, với mục đích để chiếm đoạt tài sản của anh Q. Nhận thấy hành vi của V và T có dấu hiệu của tội Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên anh Q đã làm đơn tố giác gửi đến cơ quan công an.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân phường N, quận B, Hà Nội xác định ngày 11/11/2003, Ủy ban nhân dân phường N có thực hiện việc đăng ký kết hôn cho anh Nguyễn Sỹ Q và chị Đặng Thị Thu V, đã vào sổ đăng ký kết hôn số 136. Tính đến thời điểm anh Q tố giác thì anh Q và V vẫn tồn tại quan hệ vợ chồng.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân phường C, quận N, Hà Nội xác định Đinh Xuân T và Đặng Thị Thu V từ trước đến nay không có tên trong sổ đăng ký kết hôn của phường C. Tại quyển sổ đăng ký kết hôn số 51 năm 2020 không phải tên của Đinh Xuân T và Đặng Thị Thu V.

Xác minh tại Văn phòng C1, địa chỉ: B N, T, Cầu G, Hà Nội xác định có việc công chứng chuyển nhượng căn hộ chung cư B Khu đô thị D, H, Hà Nội giữa chị Trịnh Thị T3 và Đặng Thị Thu V.

Xác minh tại Văn phòng C, địa chỉ: A T, Q, H, Hà Nội xác định có việc công chứng chuyển nhượng căn hộ chung cư B Khu đô thị D, H, Hà Nội giữa chị Đặng Thị Thu V, anh Đinh Xuân T và anh Phạm Ngọc A. Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã thu giữ Bản photo Giấy đăng ký kết hôn Đặng Thị Thu V và Đinh Xuân T số 51/2020 ngày 23/5/2020 do Chủ tịch UBND phường C, quận N, quận H, Hà Nội ký và có dấu của UBND phường C.

Xác minh tại Công ty cổ phần T6 – Chi nhánh H1 xác định ngày 23/3/2020, bà Trịnh Thị T3 ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư S Khu đô thị D, H, Hà Nội với Công ty cổ phần T6 – Chi nhánh H1. Ngày 18/5/2020, bà Trịnh Thị T3 chuyển nhượng Hợp đồng mua bán căn hộ trên cho bà Đặng Thị Thu V tại Văn phòng C1. Ngày 18/3/2021, bà Đặng Thị Thu V và chồng là ông Đinh Xuân T đã chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ trên cho ông Phạm Ngọc A tại Văn phòng C.

Bản Kết luận giám định số 6987/KLGĐ – PC09 – Đ3 ngày 28/9/2021 của Phòng PC09 - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết, chữ ký trên hợp đồng là của Đặng Thị Thu V và Đinh Xuân T.

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Thị Thu V khai nhận: Năm 2003, anh Nguyễn Sỹ Q và Đặng Thị Thu V kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 136/2003 do Ủy ban nhân dân phường N, quận B, Hà Nội. Năm 2016, bà Bùi Thị N (sinh năm: 1949, trú tại: B R N, T, Hà Nội) là mẹ V làm thủ tục tặng cho riêng V một căn chung cư tại Phòng 2404 CT4 Huyndai State, địa chỉ: D, H. Đến ngày 17/10/2019, do không có nhu cầu sử dụng nên V đã bán căn chung cư trên với giá khoảng 2.000.000.000 đồng. Trong quá trình chung sống, anh Q và V đã xảy ra mâu thuẫn trong gia đình nên khoảng cuối năm 2019 sống ly thân và đang đợi thủ tục để ly hôn. Sau đó, khoảng tháng 5/2020, V dùng số tiền trên để mua chung cư B3204/CT6B Khu Đ, H, Hà Nội của chị Trịnh Thị T3 (Sinh năm: 1989, trú tại: D, B, Hà Nội) diện tích căn hộ 99m2, giá trị của căn hộ 2.679.565.880 đồng. V và chị T3 đã đến Văn phòng C1, địa chỉ: B N, T, Cầu G, Hà Nội để làm thủ tục công chứng chuyển nhượng. Căn chung cư trên đang trong giai đoạn hoàn thiện, chưa nhận bàn giao và vẫn phải nộp tiền mua nhà theo từng đợt do chủ đầu tư yêu cầu. Việc mua căn chung cư trên, V không nói cũng không thông báo cho anh Q biết. Đến khoảng tháng 3/2021, sau khi V đã đóng tiền mua căn hộ theo đợt được khoảng 1.600.000.000 đồng thì V muốn bán căn hộ trên để hưởng lợi. Anh Phạm Ngọc A đã liên hệ hỏi mua chung cư trên. V và anh Ngọc A đồng ý chuyển nhượng chung cư trên với giá khoảng hơn 1.800.000.000 đồng, sau đó anh Ngọc A tiếp tục đóng tiền theo đợt cho chủ đầu tư. Do đang trong thời kỳ ly thân với anh Q nhưng vẫn chưa ly hôn nên V giấu anh Q về việc bán căn chung cư. Tuy nhiên, V biết nếu không có giấy chứng nhận kết hôn cùng chữ ký của người chồng thì không chuyển nhượng căn chung cư trên cho người khác nên V đã nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận kết hôn. V lên mạng để tìm kiếm người có thể làm giả Giấy chứng nhận kết hôn. V liên lạc được đối tượng tên T4 (chưa xác định được nhân thân lai lịch) để làm giả Giấy chứng nhận kết hôn, T4 báo giá 5.000.000 đồng thì V đồng ý, V nhờ Đinh Xuân T giả làm chồng của V và cung cấp thông tin cá nhân của T và gửi cho T4 để điền tên vào trong Giấy chứng nhận kết hôn giả. Khoảng một tuần sau, T4 mang giấy chứng nhận kết hôn giả số 51/2020 do Ủy ban nhân dân phường C, quận N, Hà Nội cấp ngày 23/5/2020 đến địa chỉ: D H, quận H, Hà Nội để đưa cho V. Sau đó, V mang Giấy chứng nhận kết hôn giả trên qua nhà T để T ký tên vào phần (mục) chồng. Mặc dù biết V không phải là vợ hợp pháp của mình và Giấy chứng nhận kết hôn mà V đưa là giả nhưng T vẫn ký tên vào giấy chứng nhận kết hôn giả đó để giúp cho V có thể chuyển nhượng được căn hộ chung cư trên cho người khác. V dặn T là khi đi công chứng mang theo chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (bản gốc), còn các thủ tục khác V sẽ lo. Ngày 18/3/2021, V, T và anh Ngọc A đã đến văn phòng C, địa chỉ: A T, Q, H, Hà Nội. Tại đây, anh Nguyễn Văn L là công chứng viên đã tiếp nhận hồ sơ công chứng chuyển nhượng căn chung cư B Khu đô thị D, H, Hà Nội. V, T và anh Ngọc A đã đưa sổ hộ khẩu (bản gốc), chứng minh nhân dân (bản gốc) đồng thời V đã đưa giấy chứng nhận kết hôn giả (bản gốc) cùng Hợp đồng mua bán căn hộ giữa V và chị T3 cho anh Nguyễn Văn L. Sau khi anh L kiểm tra thông tin trên những giấy tờ mà các bên cung cấp, có giấy chứng nhận kết hôn (bản gốc) nhưng anh L không kiểm tra kỹ các mặt sau trong sổ hộ khẩu có thông tin của vợ và chồng của T và V nên vẫn soạn văn bản hợp đồng mua bán căn hộ chung cư theo mẫu để cho các bên ký tên vào hợp đồng rồi anh L đã ký công chứng viên. Sau đó, anh Ngọc A đã chuyển khoản số tiền hơn 1.800.000.000 đồng từ số tài khoản 0691000439353 của Ngân hàng Q1 tới số tài khoản 190276209670 của ngân hàng T7 mang tên Đặng Thị Thu V. Số tiền bán căn chung cư trên V đã sử dụng vào việc chi tiêu cá nhân. Bản gốc đăng ký kết hôn giả giữa V và Đinh Xuân T sau khi sử dụng tại Văn phòng C thì V đã vứt bỏ, V không nhớ được địa điểm vứt. V nhận được giấy đăng ký trên tại địa chỉ D H, quận H, Hà Nội. Khi nhận thì có dấu đỏ và chữ ký của Đồng chí Chủ tịch Ủy ban còn chưa có chữ ký của V và T. Sau khi V ký vào thì qua M gặp T để nhờ ký. T và công chứng viên không hề được hưởng bất kỳ quyền lợi gì về việc mua bán căn nhà. Ngày 26/7/2021, sau khi sự việc bị phát hiện, V đã chuyển trả lại toàn bộ số tiền cho anh Ngọc A.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Đặng Thị Thu V và Đinh Xuân T, tuy nhiên không thu giữ được bản gốc Giấy đăng ký kết hôn số 51/2020 ngày 23/5/2020

Đinh Xuân T khai nhận: Đinh Xuân T và Đặng Thị Thu V là bạn học Trung học phổ thông. Vào khoảng tháng 3/2021, V đã gặp và trao đổi với T là đang có căn hộ chung cư tại B3204/CT6B Khu đô thị D, H, Hà Nội muốn chuyển nhượng sang cho người khác cần có giấy chứng nhận kết hôn và có mặt của chồng để đi công chứng chuyển nhượng. V đã đưa cho T xem hợp đồng mua bán căn hộ trên và V cam kết là căn hộ chung cư trên là tài sản riêng của V, không xảy ra tranh chấp gì. Tuy nhiên, V nói với T là do V và chồng đang có mâu thuẫn và sống ly hôn nên không gặp được chồng để lấy giấy chứng nhận kết hôn và nhờ chồng đi công chứng chuyển nhượng căn hộ trên được nên V đã nhờ T giả làm chồng của V và sẽ làm giả Giấy chứng nhận kết hôn với T (qua một người đàn ông trên mạng) để có thể chuyển nhượng căn hộ trên. V đã nhờ T cung cấp thông tin cá nhân của T để gửi cho người đàn ông đó để điền tên vào trong giấy chứng nhận kết hôn giả. Sau khi nghe V nói xong, mặc dù biết là sai trái, phạm pháp luật nhưng do là bạn bè nên T vẫn nhận lời. Khoảng 1 tuần sau, V đưa cho T giấy chứng nhận kết hôn giả số 51/2020 ngày 23/5/2020 do Ủy ban nhân dân phường C, N, Hà Nội cấp để T ký tên vào phần mục chồng. V dặn T là khi đi công chứng thì mang theo chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (bản gốc), còn các thủ tục khác V sẽ lo. Ngày 18/3/2021, V hẹn T đã đến văn phòng C, địa chỉ: A T, Q, H, Hà Nội. Tại đây, T, V đã gặp anh Phạm Ngọc A để làm thủ tục công chứng chuyển nhượng. T đã đưa giấy tờ cho V để V đưa cho công chứng viên kiểm tra và sau đó T, V và anh Ngọc A đã ký tên vào văn bản chuyển nhượng căn hộ chung cư trên. Sau đó, T ra về còn V và anh Ngọc A làm tiếp các thủ tục còn lại. T không được hưởng lợi gì trong việc giúp cho V có thể công chứng chuyển nhượng căn hộ chung cư trên cho anh Ngọc A.

Anh Nguyễn Văn L khai nhận: Anh L1 là công chứng viên đồng thời là Trưởng đại diện của Văn phòng C, địa chỉ: A T, Q, H, Hà Nội. Ngày 18/3/2021, Văn phòng công chứng của anh L1 tiếp nhận hồ sơ công chứng chuyển nhượng căn hộ chung cư B Khu đô thị D, H, Hà Nội giữa bên chuyển nhượng là Đinh Xuân T, Đặng Thị Thu V và bên nhận chuyển nhượng là anh Phạm Ngọc A. Tại đây, V đã đưa cho anh L1 xem Hợp đồng mua bán căn hộ B3204/CT6B/2020/HĐMBCH ký ngày 23/3/2020 giữa Công ty cổ phần T6 - Chi nhánh H1 với bà Trịnh Thị T3 và Văn bản chuyển nhượng số 202312 ngày 18/5/2020 tại Văn phòng C1, địa chỉ: 219C Nguyễn Ngọc V2, T, Cầu G, Hà Nội cùng giấy xác nhận về việc V đã thanh toán căn hộ B3204/CT6B Khu đô thị D, H, Hà Nội số tiền là 1.607.739.528 đồng. Ngoài những giấy tờ liên quan đến tài sản nói trên thì các bên đã đưa giấy tờ tùy thân gồm: Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh T và chị V (bản gốc), sổ hộ khẩu (bản gốc), chứng minh nhân dân (bản gốc). Sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân của các bên cùng giấy tờ liên đến căn chung cư trên những do anh L1 sơ xuất không kiểm tra kỹ nên không biết giấy chứng nhận của T và V là giả, kiểm tra kỹ trong sổ hộ khẩu của V và sổ hộ khẩu T tên chồng và tên vợ là ai mà anh L1 vẫn để các bên ký văn bản chuyển nhượng và đã ký công chứng viên. Lệ phí công chứng là 2.950.000 đồng. Anh L1 cam kết là không có mối quan hệ gì với Đinh Xuân T, Đặng Thị Thu V và anh Phạm Ngọc A và cũng không có ai nhờ gì anh L1 trong việc công chứng các văn bản trên. Không có căn cứ xác định việc anh Nguyễn Văn L hưởng lợi, có quan hệ với Đặng Thị Thu V, Đinh Xuân T nên không xử lý hình sự đối với anh L. Tuy nhiên, trong quá trình công chứng hồ sơ, anh L đã không làm hết trách nhiệm của Công chứng viên, mặc dù trong sổ hộ khẩu vẫn có tên Đặng Thị Thu V và chồng là anh Nguyễn Sỹ Q nhưng không phát hiện để làm rõ. Ngày 18/11/2021, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H đã có Công văn số 8249 đề nghị Sở Tư pháp – Thành phố Hà Nội xem xét xử lý sai phạm đối với Công chứng viên Nguyễn Văn L.

Anh Phạm Ngọc A khai: Khoảng đầu tháng 3/2021, do có nhu cầu mua nhà chung cư để sử dụng nên đã qua môi giới gặp Đặng Thị Thu V. Sau khi xem nhà đã thống nhất mua nhà trên của V tại số D tầng C khu đô thị D, đặt cọc số tiền 50 triệu đồng, số tiền mua là 3 tỷ đồng. Đến ngày 18/3/2021, anh Ngọc A cùng V và chồng là Đinh Xuân T đến văn phòng công chứng tại số A T để làm hợp đồng công chứng chuyển nhượng. Tại đây anh Ngọc A cùng vợ chồng T, V xuất trình giấy tờ gồm sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản gốc) và bên vợ chồng V, T xuất trình thêm giấy đăng ký kết hôn cùng Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số B3204 CT6B/2020/HĐMBCH với chủ đầu tư. Sau khi công chứng viên kiểm tra đầy đủ thì Văn phòng công chứng soạn văn bản chuyển nhượng Hợp đồng mua bán giữa hai bên. Anh Ngọc A đã chuyển khoản cho V khoảng 2 tỷ đồng và tiếp tục đóng tiền mua chung cư theo tiến độ. Sau đó khi được thông báo là T, V sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục chuyển nhượng mua bán nhà với anh Ngọc A thì đến 26/7/2021 Đặng Thị Thu V đã chuyển trả số tiền 2.506.000.000 đồng cho anh Ngọc A để khắc phục. Anh Ngọc A không có đề nghị gì với Cơ quan công an về việc chuyển nhượng của T và V đối với anh Ngọc A về căn hộ chung cư trên.

Bà Bùi Thị N – mẹ đẻ Đặng Thị Thu V khai phù hợp với lời khai của V về việc tặng cho riêng V căn hộ chung cư tại tại Phòng 2404 CT4 Huyndai State, địa chỉ: D, H. Thủ tục tặng cho được ghi nhận theo Hợp đồng tặng cho căn hộ chung cư số 000020/2016, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐTC được lưu tại Văn phòng C2.

Anh Nguyễn Sỹ Q có Đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình điều tra, về đối tượng “Tiến” đã làm giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và giao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho Đặng Thị Thu V, vì V khai không biết tên tuổi, địa chỉ, đã xóa số điện thoại, việc giao dịch diễn ra trực tiếp nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 23 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận H truy tố các bị cáo Đặng Thị Thu V, Đinh Xuân T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo Đặng Thị Thu V mức án từ 08- 10 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo Đinh Xuân T mức án từ 06- 08 tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Luật sư xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận đã có hành vi làm giả giấy chứng nhận kết hôn để hoàn thiện thủ tục mua bán căn hộ. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức". Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS.

    Nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

    Đây là vụ án đồng phạm. Bị cáo V là người khởi xướng và thực hành. Bị cáo T là người giúp sức. Bị cáo T không được hưởng lợi gì từ bị cáo V.

  3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo V có mẹ đẻ được tặng huân chương lao động hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

    Các bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

  5. Đối với anh Nguyễn Văn L, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H đã có công văn đề nghị Sở tư pháp thành phố Hà Nội xem xét xử lý nên HĐXX không giải quyết.
  6. Về dân sự: Anh Phạm Ngọc A, anh Nguyễn Sỹ Q không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.

    Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Thị Thu V, Đinh Xuân T phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Đặng Thị Thu V 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Đặng Thị Thu V cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
    • Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Đinh Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 135/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vân, Tùng làm giả tài liệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger