TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2024/DS-ST
Ngày 24 tháng 5 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng cố đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Minh
Ông Nguyễn Việt Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 754/2023/TLST-DS, ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng cố đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1945 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Bà Nguyễn Thị T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Bà Cao Thị N1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Đa K (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Văn K1 (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Văn V (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Tương L (vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Văn T1 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Ngày 20/02/2021, bà có thỏa thuận cố của ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 04 công đất ruộng (tầm 03 mét) với giá 14 chỉ vàng 24K, thời hạn cố 03 năm, đất tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Khi cố đất có làm “Tờ giao kèo cố đất” có xác nhận và chứng kiến của ông Nguyễn Văn L1, ông Nguyễn Hoàng N2 (trưởng ấp T). Sau khi cố đất thỏa thuận cho ông B, bà N1 thuê lại mỗi năm bằng 56 giạ lúa, hiện còn nợ lại lúa thuê vụ hè thu năm 2023 là 28 giạ lúa, tương đương số tiền 4.760.000 đồng. Đến ngày 13/7/2023 thì ông B chết, hiện nay các con ông B không đồng ý trả lúa cho bà, ông Nguyễn Đa K là con ông B đang quản lý phần đất cho rằng không có việc cố đất, từ đó dẫn đến tranh chấp. Nay bà Nguyễn Thị N yêu cầu tuyên bố tờ giao kèo cố đất giữa bà N với ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 vào ngày 20/02/2021 âl là vô hiệu, buộc ông Nguyễn Đa K và bà Cao Thị N1 trả cho bà 1 chỉ vàng 24k và tiền lúa thuê đất 4.760.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Tại biên bản xác minh đối với ông Nguyễn Văn L1, ông Nguyễn Hoàng N2 cùng ngày 09/01/2024 có cùng nội dung là bà N có cố 04 công đất của ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 sau đó cho thuê lại như nội dung tờ giao kèo cố đất là đúng sự thật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời trình bày quan điểm về tuân theo pháp luật của Thẩm phán Chủ tọa, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý, đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 71 BLTTDS năm 2015. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 72, 73 BLTTDS năm 2015, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 117, 122, 131 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167, 188 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, tuyên bố Tờ giao kèo cố đất ngày 20/02/2021 âl giữa ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 với bà Nguyễn Thị N là vô hiệu, buộc ông K và bà N1 trả lại cho bà N 14 chỉ vàng 24k.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc buộc ông K và bà N1 trả tiền lúa thuê đất 4.760.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Cao Thị N1 có nơi cư trú tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nội dung tranh chấp là Hợp đồng cố đất nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Bị đơn và tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[3] Về nội dung tranh chấp: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu tuyên bố tờ giao kèo cố đất giữa bà N với ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 vào ngày 20/02/2021 âl là vô hiệu, buộc ông Nguyễn Đa K và bà Cao Thị N1 trả cho bà 1 chỉ vàng 24k và tiền lúa thuê đất 4.760.000 đồng.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng: Tại Tờ giao kèo cố đất ngày 20/02/2021 âl thể hiện nội dung: Ông B và bà N1 có cố cho bà N 04 công đất ruộng tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau với giá 14 chỉ vàng 24k, thời hạn 03 năm. Sau đó thỏa thuận bà N cho ông B, bà N1 thuê lại mỗi năm bằng 56 giạ lúa. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, tuy không làm việc được với ông K và bà N1 cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định nhưng ông K và bà N1 cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay văn bản gửi Tòa án thể hiện sự phản đối trước yêu cầu khởi kiện của bà N. Như vậy, ông K và bà N1 mặc nhiên thừa nhận ông B và bà N1 có cầm cố 04 công đất cho bà N với giá 14 chỉ vàng 24k. Mặc khác, quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành xác minh đối với ông Nguyễn Hoàng N2 là trưởng ấp T, ông Nguyễn Văn L1 là người ký chứng kiến khi các đương sự làm tờ giao kèo cố đất và cùng xác định có việc cố đất như yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, việc ông B và bà N1 có cố cho bà N 04 công đất ruộng, đất tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau với giá 14 chỉ vàng 24k, thời hạn 03 năm, sau đó thỏa thuận bà N cho ông B, bà N1 thuê lại mỗi năm bằng 56 giạ lúa là thực tế có xảy ra.
[5] Tuy nhiên, đất đai không thuộc đối tượng cầm cố tài sản nên việc cố đất giữa các đương sự là vi phạm điều cấm nên không được pháp luật công nhận. Do đó, căn cứ Điều 117, 122, 131 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 Luật đất đai năm 2013, tuyên bố Tờ giao kèo cố đất ngày 20/02/2021 giữa bà N với ông B và bà N1 là vô hiệu. Hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì các bên phải trao trả cho nhau những gì đã nhận, ông B và bà N1 đã nhận 14 chỉ vàng 24k từ bà N. Ngày 13/7/2023 ông B chết, hiện tại ông K là con của ông B và bà N1 đang trực tiếp quản lý, canh tác phần đất cùng với bà N1 nên buộc ông K và bà N1 trả lại cho bà N 14 chỉ vàng 24k, còn bà N không nhận phần đất từ ông B, bà N1 nên không buộc trả đất là phù hợp. Sau này các đương sự có yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông B thì số vàng buộc phải trả cho bà N mà bà N1 và ông K phải thanh toán được trừ vào khối di sản của ông B. Đối với tiền thuê đất bà N yêu cầu ông K và bà N1 trả 4.760.000 đồng (tương đương 28 giạ lúa), thấy rằng: Hợp đồng cầm cố đất vô hiệu nên hợp đồng thuê đất cũng bị vô hiệu, các bên trao trả cho nhau những gì đã nhận, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự. Do đó, việc bà N yêu cầu bà N1 và ông K trả 28 giạ lúa thiếu vụ hè thu tương đương 4.760.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, tuyên bố Tờ giao kèo cố đất ngày 20/02/2021 âl giữa ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 với bà Nguyễn Thị N là vô hiệu, ông Nguyễn Đa K và bà Cao Thị N1 trả cho bà N 14 chỉ vàng 24k là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời là có căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu (đã được miễn dự nộp nên không hoàn lại). Bà N1, ông K phải chịu án phí không giá ngạch 300.000 đồng và án phí có giá ngạch số tiền 5.082.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244, Điều 266, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, Điều 123 và Điều 131 của Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 167 và Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N - Tuyên bố Tờ giao kèo cố đất ngày 20/02/2021 âl giữa ông Nguyễn Văn B và bà Cao Thị N1 với bà Nguyễn Thị N là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Đa K và bà Cao Thị N1 trả lại cho bà Nguyễn Thị N 14 chỉ vàng 24k (mười bốn chỉ vàng hai mươi bốn ka ra).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà Cao Thị N1, ông Nguyễn Đa K trả số tiền 4.760.000 đồng.
- Về án phí: Án phí không giá ngạch: Bà Cao Thị N1, ông Nguyễn Đa K phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Án phí có giá ngạch: Bà Cao Thị N1, ông Nguyễn Đa K phải chịu số tiền 5.082.000 đồng (năm triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Cao Thị N3, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đa K, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn V, ông Nguyễn Tương L, ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 135/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cố đất
- Số bản án: 135/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cố đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
