|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày: 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.
Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến và bà Bùi Thị Thu Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Trọng Thọ, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 396/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 25/01/2024, Thông báo số 70/2024/TB-TA ngày 15/4//2024 về việc mở lại phiên toà đối với bị cáo:
Bùi Xuân V, sinh ngày 13/02/1977, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: Số D đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ở hiện nay: Số C đường H, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Bùi N, sinh năm 1944, mẹ: Đỗ Thị G, sinh năm 1945; vợ: Phan Thị Thanh H, sinh năm 1978 và 03 người con.
* Về nhân thân:
Ngày 15/11/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 151/2005/HSST.
Ngày 28/11/2012 bị Công an thành phố H xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 3180, nộp phạt ngày 03/12/2012.
Tiền án: Không; tiền sự: Có 02 tiền sự (Ngày 12/8/2014 bị Công an thành phố H xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 3670, nộp phạt ngày 28/8/2014; Ngày 09/02/2015 bị Công an thành phố H xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” theo Quyết định số 1106, nộp phạt ngày 26/3/2015).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/11/2023, sau đó được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” từ ngày 01/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
* Bị hại: Võ Việt P, sinh năm 1994; địa chỉ: Số B đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- + Trịnh Lê Duy T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số E đường Q, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Trương Văn H1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số B, đường D, quận S, thành phố C, Đài Loan. Vắng mặt.
- + Phan Thị Thanh H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số D đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Trịnh Lê Duy C, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Nguyễn Văn Nhật T1, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Bùi Đại L, sinh năm 1989; địa chỉ: Số E đường X, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Võ Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: Số B đường N, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Trần Hào Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A kiệt A đường T, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Huỳnh Ngọc T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Số B đường H, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Trương Thị Diệu C1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Trương Thị Bảo Y, sinh năm 1991; địa chỉ: Số E đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Ngọc T3, sinh năm 1991; địa chỉ: Số D đường A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Đình H2, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C đường P, phường K, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Chiêu H3, sinh năm 1989; địa chỉ: Số F đường A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Chiêu H4, sinh năm 1991; địa chỉ: Đ, thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số C đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Anh Lê Chiêu H5, sinh năm 1992; địa chỉ: Số F đường A, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Võ Văn V1, sinh năm 1994; địa chỉ: Số A đường L, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Lê Trương Xuân Q1, sinh năm 1991; địa chỉ: Số F đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- + Nguyễn Như D, sinh năm 1989; địa chỉ: Số G đường N, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/8/2015, anh Võ Việt P cùng nhóm bạn, gồm: Trương Thị Diệu C1, Trương Thị Bảo Y, Lê Ngọc T3, Lê Đình H2, Lê Chiêu H3, Lê Chiêu H4, Nguyễn Hữu P1, Lê Chiêu H5, Võ Văn V1, Lê Trương Xuân Q1, Nguyễn Như D đến hát tại quán K tại địa chỉ số A đường L, phường Đ (là phường T cũ), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế do vợ chồng Bùi Xuân V làm chủ.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh P cùng nhóm bạn đến quầy lễ tân để tính tiền ra về thì giữa Nguyễn Như D và nhân viên quán K là Trịnh Lê Duy T xảy ra mâu thuẫn xô xát nhau nên V và nhân viên quán ra can ngăn. Một lúc sau, tại khu vực trước sân quán K tiếp tục xảy ra xô xát giữa một số người trong nhóm anh P và nhóm nhân viên quán K gồm: Trịnh Lê Duy T, Trịnh Lê Duy C, Bùi Đại L. Thấy vậy, V và một số nhân viên quán K tiếp tục vào can ngăn. Lúc này, V bực tức vì can ngăn 02 nhóm xô xát nhau nhưng không được nên V lấy 01 chai nước bằng thủy tinh ở khu vực trước quầy lễ tân chạy ra khu vực phía trước cổng quán K, V đến đứng đối diện anh P, cầm chai bằng thủy tinh ở tay trái đánh 02 cái vào người anh P thì trúng vào vùng đầu, vùng mặt anh P rồi bỏ đi vào lại phía bên trong quán I.
Hậu quả làm anh Võ Việt P bị thương tích ở vùng đầu, mặt và được đưa đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện. Những người khác trong nhóm anh P và nhóm nhân viên quán K không ai bị thương tích gì.
* Vật chứng thu giữ: 01 áo pull tay đùi, cổ tròn màu cam.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 246-15/TgT ngày 25/8/2015 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh T kết luận về thương tích của Võ Việt P như sau:
-
Dấu hiệu chính qua giám định:
Đa vết thương trán và má trái để lại sẹo xấu, biến dạng mặt, chèn ép tuyến nước bọt má trái ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.
- Cơ chế hình thành vết thương và vật gây: Do vật tày có nhiều cạnh sắc tác động (phù hợp với vỏ chai vỡ tác động).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Việt P yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 10.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với Trịnh Lê Duy T4, quá trình giải quyết vụ án đã có lời khai nhận mình là người trực tiếp gây thương tích trong vụ án. Tuy nhiên, quá trình điều tra có cơ sở xác định lời khai của T có sự nhầm lẫn trong đối tượng mà T tác động nên không xem xét xử lý.
Đối với các đối tượng khác trong vụ án có hành vi xô xát với nhau nhưng không gây hậu quả gì nên không xem xét xử lý. Hành vi gây thương tích của bị cáo Bùi Xuân V mang tính chất bộc phát nên không có cơ sở xác định trách nhiệm đồng phạm của những đối tượng khác trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSTPH ngày 26 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Bùi Xuân V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bùi Xuân V từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo pull tay đùi, cổ tròn màu cam.
- - Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Xuân V phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 06/8/2015, tại quán K có địa chỉ số A đường L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; do bực tức về việc 02 lần can ngăn xô xát giữa nhóm của anh Võ Việt P và nhóm nhân viên của quán mình làm chủ nhưng không được nên Bùi Xuân V đã cầm chai thủy tinh đánh 02 cái trúng vào vùng đầu, vùng mặt của anh Võ Việt P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Hành vi của Bùi Xuân V thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội thì tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho người phạm tội về mức hình phạt so với khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên với hành vi nêu trên của bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Bùi Xuân V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nguyên nhân là do bị cáo thiếu kiềm chế và nóng nảy khi giải quyết mâu thuẫn giữa nhân viên của quán mình với khách hàng, bị cáo Bùi Xuân V đã 02 lần cố gắng can ngăn nhưng không được nên đã dùng chai thủy tinh đánh vào vùng mặt, vùng đầu của bị hại, gây thương tích với tỷ lệ tổn hại sức khỏe 15%.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác và làm ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Tại thời điểm phạm tội ngày 06/8/2015 bị cáo đang chịu 02 tiền sự; bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; sự việc xảy ra đã lâu và chính quyền địa phương xác nhận từ sau ngày 06/8/2015 đến nay bị cáo không có vi phạm gì, chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương nên việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cụ thể xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố Bùi Xuân V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
-
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt Bùi Xuân V 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến ngày 01/12/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo pull tay đùi, cổ tròn màu cam.
Vật chứng trên được xác định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
-
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Bùi Xuân V phải chịu 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tôn Minh Hiền |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Xuân Việt " Tội cố ý gây thương tích"
