Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 22 – 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quang và ông Đặng Quang Hoạch.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Phú Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thị Yến N, sinh năm 2001 tại An Giang; HKTT: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Trọng T, sinh năm 1975 và con bà Trương Thị Tuyết H, sinh năm 1976; Chồng: Nguyễn Quốc L, sinh năm 1993 có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị giam giữ từ ngày 22/11/2022 đến ngày 19/12/2022 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

Người làm chứng: Anh Thân Trọng H1, sinh năm 2000. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/11/2022, Vũ Đức T1, Phan Thị D, Nguyễn Văn C, Mai Quang T2, Phan Thị Yến N tổ chức ăn nhậu tại nhà của T1 tại ấp B, xã B, huyện T. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T1 sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, gắn sim số 0971001155 gọi cho người tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) ma túy khay và hẹn giao ma túy trước cửa nhà của T1. Đến khoảng 21 giờ, sau khi nhậu xong thì T2, C và N đi vào phòng ngủ của T1 nằm trước, T1 cũng đi vào mở nhạc và đèn chiếu lên tường, mở xong T1 đi ra nhà bếp lấy 01 đĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa (loại thẻ gắn sim) đem vào và ngồi trên nệm, lúc này T1 lấy gói ma tuý khay vừa mua về và đổ hết vào đĩa sứ màu trắng, rồi T1 dùng quẹt gas hơ lửa bên dưới đĩa sứ cho ma túy nóng lên (xào khay), sau đó T1 dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ma túy khay và kẻ ma túy thành các đường thẳng, T1 lấy tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn sẵn thành ống hút từ trước hít 02 đường ma túy khay trên đĩa rồi tựa lưng vào tường nhắm mắt nghe nhạc, số ma túy còn lại trên đĩa sứ thì T1 để trước mặt T2, C, N, D; Lúc này D, C và N thấy vậy nên thay nhau tự dùng ống hút bằng tờ tiền polymer hít ma túy. Do thiếu 01 người nữ phục vụ nên N gọi điện thoại rủ N1 đến chơi và cùng sử dụng ma túy với cả nhóm. Một lúc sau N1 đến nhà của T1 và ngồi kế T2 cùng tham gia sử dụng ma túy với cả nhóm. Vào lúc 23 giờ 40 phút ngày 21/11/2022, Công an xã B, huyện T tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Vũ Đức T1 thuộc ấp B, xã B, huyện T thì phát hiện Vũ Đức T1, Mai Quang T2, Nguyễn Văn C, Phan Thị D, Lê Thị Bé N2 và Phan Thị Yến N đang sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời thu giữ vật chứng và tang vật gồm:

  • - 01 gói nylon (dạng bịch Zip) có chứa chất màu trắng; 01(một) đĩa sứ, màu trắng bên trên mặt đĩa có bám chất màu trắng; 01 thẻ nhựa, 01 tờ giấy bạc mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống hút, 01 tờ giấy bạc mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống hút hai đầu được cuốn bên ngoài bằng vỏ giấy đầu lọc thuốc lá hiệu 555 là dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Tất cả được niêm phong vào 01 thùng giấy carton, ngoài thùng giấy có chữ ký của Vũ Đức T1 và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - 01 chiếc loa hiệu Bose màu đen.
  • - 01 chiếc đèn nháy hiệu Laser Show SIIFII-K3818 màu đen.
  • - 01 chiếc đèn không nhãn hiệu, màu trắng.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B9-48410; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu nâu, gắn sim số 0708667788 và số tiền 3.340.000 đồng (ba triệu, ba trăm bốn mươi ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn C.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode biển số 60B9 – 769.46; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, gắn sim số 0971001155, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, gắn sim số 0968135678 thu giữ của Vũ Đức T1.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen (không rõ sim) và số tiền 1.105.000 đồng (một triệu, một trăm lẻ năm ngàn đồng) thu giữ của Mai Quang T2.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng nhạt, gắn sim số 0961060697 của Lê Thị Bé N2.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xanh lá, gắn sim số 0356003687 và số tiền 2.360.000 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) của Phan Thị Yến N.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu vàng, gắn sim số 0386555653 của Phan Thị Diễm.

Sau khi thu giữ vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trưng cầu giám định số ma túy thu giữ nêu trên. Tại kết luận giám định số 2518/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • - Mẫu chất màu trắng (kí hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1817 gam, loại: Ketamine
  • - Mẫu chất màu trắng (kí hiệu M2) dính trên đĩa sứ, thẻ nhựa, tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn và tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn bên ngoài bằng vỏ giấy đầu lọc thuốc lá hiệu 555 được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Ketamine. Mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Về vật chứng:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B9-48410, xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 60B9-769.46 thuộc tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thanh T3 và chị Nguyễn Thị Vương L1, các đối tượng trên không sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Thanh T3 và chị Nguyễn Thị Vương L1.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu nâu, gắn sim số 0708667788 và số tiền 3.340.000 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng) của Nguyễn Văn C, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đen (không rõ sim) và số tiền 1.105.000 đồng (một triệu một trăm lẻ năm ngàn đồng) của Mai Quang T2, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng nhạt, gắn sim số 0961060697 của Lê Thị Bé N2, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu vàng, gắn sim số 0386555653 của Phan Thị D, số tiền 2.360.000 đồng (hai triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) của Phan Thị Yến N, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh, gắn sim số 0968135678 của Vũ Đức T1 không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Nguyễn Văn C, Mai Quang T2, Lê Thị Bé N2, Phan Thị D, Vũ Đức T1 và bị cáo Phan Thị Yến N.

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 772/KL-VPYTW ngày 31/10/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B xác định bị can Vũ Đức T1 bị bệnh rối loại hưng cảm thực tổn (F06.30-ICD.10), tại thời điểm gây án và hiện nay bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ngày 08/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T có Công văn yêu cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương B giải thích rõ kết luận giám định nhưng chưa có kết quả nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Vũ Đức T1 theo quy định.

Đối với Nguyễn Văn C, Phan Thị D, Lê Thị Bé N2, Mai Quang T2 không tham gia góp tiền mua ma túy cùng T1; T2 không thừa nhận việc nói Phan Thị Yến N gọi N2 đến để cùng sử dụng ma túy nên không có căn cứ để xử lý. Do các đối tượng trên có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã vi phạm vào khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình nên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành hành chính các đối tượng trên theo quy định.

Đối với đối tượng tên M là người bán ma túy cho bị can T1, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 142/CT-VKS-TB ngày 22 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Phan Thị Yến N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  2. Về vật chứng:
    • - Tịch thu sung công 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đựng trong thùng giấy niêm phong sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
    • - Tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ sử dụng ma túy đựng trong thùng giấy niêm phong sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
    • - Tịch thu sung công 01 cái loa, 02 cái đèn, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax (kèm theo sim).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai người làm chứng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 21/11/2022, Vũ Đức T1 đã mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà không số của Vũ Đức T1 thuộc ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai cho các đối tượng Nguyễn Văn C, Phan Thị Yến N, Phan Thị D, Lê Thị Bé N2, Mai Quang T2 sử dụng ma túy; trong đó, bị cáo Phan Thị Yến N đã gọi điện thoại rủ Lê Thị Bé N2 đến sử dụng ma túy và được T1 cho N2 sử dụng cùng. Vì vậy, hành vi của bị cáo Phan Thị Yến N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Vì ma túy là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy; mặt khác, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma túy còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; con bị cáo còn nhỏ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về xử lý vật chứng:

[4.1] Đối với 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (đựng trong thùng giấy niêm phong sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[4. 2] Tịch thu và tiêu hủy 01 thùng giấy niêm phong ma túy và các dụng cụ sử dụng ma túy sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4.3] Đối với 01 cái loa hiệu Bose, 01 cái đèn nháy hiệu Laser Show SIIFII-K3818, 01 cái đèn không nhãn hiệu, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax của Vũ Đức T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax của bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
    1. Tuyên bố bị cáo Phan Thị Yến N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Xử phạt bị cáo Phan Thị Yến N 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành án phạt tù nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị giam giữ từ ngày 22/11/2022 đến ngày 19/12/2022.
  2. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 cái loa, 02 cái đèn, 02 điện thoại di động (kèm theo sim).
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đựng trong thùng giấy niêm phong sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.
    • - Tịch thu và tiêu hủy ma túy và các dụng cụ sử dụng ma túy đựng trong thùng giấy niêm phong sau giám định số 2518/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2022 của Phòng K - Công an tỉnh Đ.

    (Các vật chứng nêu trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/4/2023).

  3. Căn cứ vào điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra CAH. Trảng Bom;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - THA, Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Bích Liễu

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phan Thị Yến Nhi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger