NHÂN DANH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI | |
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà V. Thị Nguyệt
- Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Thị Phượng
- 2. Bà Dương Thị Diễm
- Thư ký phiên tòa: Anh Huỳnh – Thư ký Nhân dân quận C, thành phố A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận A, thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Hào Linh Trang – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 06 và ngày 27 tháng 06 năm XX, tại Trụ sở A nhân dân quận B, thành phố C mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ Án sơ thẩm lý số: 363/XX/TLST – DS ngày 02 tháng 12 năm XX về việc "Yêu cầu chia thừa kế" theo Bản án ra xét xử số: 179/XX/QĐST-DS ngày 22 tháng 05 năm XX; C hoãn số 93/XX/HPT ngày 03 tháng 06 năm XX giữa các đương sự:
A: B; sinh năm: XX; CCCD số XX do Cục cảnh sát QLHC TTXH C cấp ngày 10/07/XX. ĐKHKTT: Số 88 A, phường A, quận B, thành phố C.
A: B; sinh năm XX; CCCD số XX do Bộ công an cấp ngày 14/01/XX. ĐKHKTT: Số 84 C, phường C, quận A, thành phố B.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư A, luật sư Công ty Luật TNHH B – Đoàn luật sư thành phố C.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- A; Sinh năm XX; ĐKHKTT: số 86 B, phường B, quận C, thành phố A.
- A; Sinh năm XX; ĐKHKTT: số 90 B, phường B, quận C, thành phố A.
- A; Sinh năm XX; ĐKHKTT: số 82 B, phường B, quận C, thành phố A.
Có mặt: A, bà Phượng bà Hòa và B ;
Vắng mặt: A;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
A khi khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên B Bình trình bày:
Bố mẹ tôi là A và bà B có năm người con là: C; A; B; C và tôi. Bố mẹ tôi có để lại di sản thừa kế là nhà và đất tại số 23 tổ 1 làng A, phường A, quận B, thành phố C (nay là số 8 ngõ 42 A, phường A, quận B, thành phố C). Bố tôi mất năm XX, vào ngày 20/8/XX mẹ tôi có mời dì Lan (em gái của bà Tú) lập thành văn bản ghi nhận sự thỏa thuận phân chia toàn bộ di sản của bố mẹ. Theo sự thỏa thuận phân chia của tất cả những người con chung của bố mẹ tôi (Bố, mẹ tôi) không có con riêng, con ngoài giá thú, không có con nuôi) ngoài ra còn có sự chứng kiến của A – tổ trưởng dân phố. Nội dung cụ thể của biên bản bàn giao thừa kế B tôi nộp tại hồ sơ, tôi cũng đã thực hiện đúng với nội dung này, cụ thể:
- Giao cho tôi toàn quyền quản lý và sử dụng nhà số 23 tổ 1 làng A, phường A, quận B, thành phố C (nay là số 8 ngõ 42 A, phường A, quận B, thành phố C).
- A có trách nhiệm thanh toán cho những người con khác trong gia đình như biên bản bàn giao thừa kế đã ký ngày 20 tháng 8 năm XX cụ thể:
Thanh toán cho bà A: 64.000.000 đồng;
Thanh toán cho A: 128.000.000 đồng;
Thanh toán bà A 64.000.000 đồng;
Thanh toán A 128.000.000 đồng.
Tại thời điểm lập biên bản bàn giao thừa kế các anh chị em trong gia đình có mặt và ký nhận vào biên bản. B, tôi đã thanh toán tiền cho các em bà Phượng; C; A; B nhận tiền và không có ý kiến gì khác về di sản thừa kế.
Việc thỏa thuận phân chia di sản do mẹ tôi chủ trì và đồng thuận của tất cả những người con đồng thời toàn bộ khu phần của miếng đất A giao ngay khi lập biên bản, không có bút lục thành viên trong gia đình có sự phản hồi ý kiến gì.
Đến thời điểm hiện nay gia đình tôi muốn hoàn tất thủ tục đăng ký biến động, tôi chờ A đề nghị các em làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì em trai tôi, B đã không hoàn tất các thủ tục tôi đã thực hiện quyền tài sản đối với phần tài sản tôi đã thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận thực hiện di chúc của bố tôi giữa các thành viên trong gia đình. C khởi kiện tại A đề nghị xác nhận việc phân chia di sản thừa kế theo biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX B xem xét công nhận quyền tài sản đối với di sản thừa kế đối với bất động sản là nhà đất tại số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B).
Ngày 10/3/XX A có đơn phản tố đề nghị chia lại tài sản thừa kế. B có ý kiến phản hồi yêu cầu phản tố của A tại Tòa án cụ thể việc phân chia của gia đình tôi A thành phần hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ tôi, B đồng ý, việc thỏa thuận phân chia di sản đúng quy định, đảm bảo đúng như nội dung di chúc của bố tôi và ý chí của mẹ tôi, khi lập biên bản mẹ tôi hoàn toàn minh mẫn và đã phát sinh hiệu lực ngay khi lập văn bản vì khi ký văn bản thỏa thuận vì các em tôi C nhận số tiền tính cho mỗi người theo thỏa thuận phân chia 06 phần tương ứng với giá trị nhà đất tại thời điểm lập biên bản. A tôi đã sinh hoạt tại nhà đất mà thanh toán giá trị cho từng thành viên từ ngày 20/8/XX đến trước khi tôi xin đăng ký biến động tài sản không ai có ý kiến. B đề nghị Tòa án xem xét giải quyết bảo vệ quyền lợi cho tôi và gia đình.
Tại phiên tòa hôm nay A xin giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong những lần làm việc tại B. Yêu cầu công nhận thỏa thuận và phân chia thừa kế đối với nhà số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B lập ngày 20 tháng 8 năm XX của các thành viên trong gia đình.
* A: B trình bày:
Tôi xác nhận thông tin mà A trình bày, tôi có nhận số tiền 128.000.000 đồng của anh B cho gia đình anh Bình vào sinh sống tại địa chỉ nhà số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B). Tôi không xác nhận nội dung được ghi tại biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX vì tôi xác định là văn bản cắt ghép. Thực tế tôi luôn xác nhận số tiền anh Bình giao cho tôi là tiền thuê nhà mà anh Bình trả cho mẹ tôi để mẹ con chung anh A sống tại nhà số 23 tổ 1 làng C mang tên chủ tài sản là B và bà C. Khi anh Bình khởi kiện tôi mới biết ý định của anh Bình là đưa tiền ngày 20 tháng 08 năm XX là phân chia di sản thừa kế theo nguyện vọng của bố tôi.
Số tiền 128.000.000 đồng nhận của anh Bình và ký văn bản nhận ngày 20 tháng 08 năm XX, tôi xác nhận không phải là giá trị khu phần thừa kế như anh Bình trình bày. A, nay tôi đề nghị B giải quyết chia di sản thừa kế trên theo quy định và mong muốn của bố mẹ tôi là để lại cho các con trai mỗi người được hưởng 1/6 di sản.
Đối với số tiền tôi đã nhận tôi chấp nhận trả lại anh Bình quy đổi theo thời giá (giá trị của bất động sản, hoặc vàng, hoặc tỷ giá USD, hoặc lãi suất của ngân hàng) của thời điểm ngày 20/8/XX cho tới ngày A có phán quyết cuối cùng.
Ngoài những thông tin trên bên không trình bày gì thêm.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
A, B, bà C có quan điểm xác nhận toàn bộ việc phân chia di sản thừa kế và việc đã trực tiếp nhận tiền từ việc phân chia di sản và bàn giao nhà đất là di sản thừa kế cho A như B trình bày. Đề nghị Tòa án công nhận việc phân chia di sản thừa kế theo nội dung biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX do những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ A thực hiện.
A, bà Phượng, bà B xác nhận kể từ khi nhận số tiền theo thỏa thuận và giao nhà đất cho nhà C không ai có ý kiến phản hồi ngăn cản hoặc phản bác nội dung phân chia cho đến khi vợ chồng C thực hiện các thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung nhượng di sản thừa kế theo biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX, A mới có ý kiến đòi phân chia thừa kế lại đồng thời trả lại số tiền đã nhận của C và không thừa nhận nội dung biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX.
Người làm chứng - A - Tổ trưởng dân phố do cụ B (Vợ cụ C) mời tham gia chứng kiến lập biên bản bàn giao nhận thừa kế trình bày: Toàn bộ nội dung biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX là có thực tế vì ông là người chứng kiến việc giao kết theo thỏa thuận giao tiền nhận nhà giữa A và các em trai em gái có sự chứng kiến của bà Tú và bà Lan. Ngoài ra B không có ý kiến gì khác.
Quá trình giải quyết vụ Án Minh có đề nghị B trưng cầu giám định biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX do xác định văn bản này là giả mạo cắt dán. A ra quyết định trưng cầu giám định biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX đến cơ quan có thẩm quyền giám định những vật các tài liệu do B cung cấp kèm theo yêu cầu giám định cơ quan có thẩm quyền đã kết luận không có kiến nghị giám định.
Tại phiên tòa hôm nay:
A: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và bản khởi kiện bổ sung cũng như phần trình bày tại B.
A: Giữ nguyên yêu cầu chia thừa kế của cụ Sinh theo di chúc, cụ thể B muốn nhận 1/6 di sản của cụ Sinh bằng hiện vật.
Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A và bác yêu cầu phản tố của B, công nhận quyền tài sản C thực hiện đăng ký biến động theo biên bản thỏa thuận gia đình lập ngày 20 tháng 08 năm XX.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận A, thành phố B tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ Án thực hiện đúng quyền hạn của Luật tố tụng dân sự trong việc xác định nội dung tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thời hiệu khởi kiện; tiến hành thu thập chứng cứ B, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; việc cấp, tống đạt và giao nhận văn bản tố tụng dân sự đúng quyền hạn của pháp luật. Tại phiên tòa, C xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quyền hạn của Bộ luật tố tụng dân sự. A, đương sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. B xét xử tiến hành việc xét xử sau khi đã tống đạt hợp lệ cho đương sự là đúng thủ tục.
A chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
A, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan B thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72, Điều 73, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày 03 tháng 6 năm XX, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. C hoãn phiên tòa. Phiên tòa được mở lại vào ngày 03 tháng 06 năm XX theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm XX.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận A đề nghị B xét xử:
Sau khi phân tích nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận A đề nghị B xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu công nhận việc phân chia di sản theo thỏa thuận đối với di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ: nhà số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B) theo thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của C và ý chí A tài sản của bà B.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của A về việc tuyên biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX là giả mạo; không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế lại đối với di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ: nhà số 23 tổ 1 làng B, phường B, quận C, thành phố A (nay là số 8 ngõ 42 B, phường B, quận C, thành phố A) của A.
Án phí sơ thẩm: A sẽ chịu là những người cao tuổi đề nghị HĐXX áp dụng miễn án phí chia thừa kế theo quyền hạn của pháp luật.
A, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Luật sư A – Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của B bày:
- Xem xét việc tuân thủ quyền hạn pháp luật và tính có hiệu lực bản di chúc của cụ Sinh lập ngày 10 tháng 10 năm XX về hình thức và nội dung. Đề nghị HĐXX chia cho A 1/6 di sản thừa kế bằng hiện vật.
- Đề nghị A không công nhận giá trị pháp lý của biên bản bàn giao thừa kế ngày 20 tháng 8 năm XX.
- Đề nghị HĐXX xem xét về giá trị quyền sử dụng đất; về diện tích thừa kế theo biên bản thẩm định hiện trạng và số liệu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ Án thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, B xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện.
A khởi kiện yêu cầu chia thừa kế nhà đất tại địa chỉ chia di sản thừa kế là nhà đất tại địa chỉ: nhà số 23 tổ 1 làng B, phường B, quận C, thành phố A (nay là số 8 ngõ 42 B, phường B, quận C, thành phố A) là di sản thừa kế của B và bà C.
A B chủ: Số 84 C, phường C, quận A, thành phố B. Do vậy, nguyên C khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tại A nhân dân quận A. Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm XX, B nhân dân quận A thụ lý và án là đúng thẩm quyền.
Về thời hiệu người thừa kế yêu cầu chia di sản: A, mất năm XX; B, mất năm XX. Căn cứ theo Điều 623 Bộ luật dân sự năm XX. Tại phần 1 C 01/GĐ-TANDTC năm XX có quy định với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/XX thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quyền hạn tại Điều 36 của Pháp lệnh thừa kế năm XX và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/XX của B phán C nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quyền hạn của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể là thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/XX. Căn cứ Điều 611 Bộ luật dân sự năm XX. C nhân dân quận A thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
[2] Về tố tụng:
A có đơn ngày 20 tháng 11 năm XX yêu cầu về việc thỏa thuận theo biên bản bàn giao thừa kế ngày 20 tháng 08 năm XX. TAND quận B thụ lý việc dân sự
Ngày 19 tháng 02 năm XX A có đơn yêu cầu phân chia theo pháp luật, bác Văn bản, biên bản bàn giao thừa kế ngày 20 tháng 08 năm XX và xin hưởng di sản của bố mẹ bằng hiện vật. Như vậy cần thiết phải chuyển vụ việc dân sự thành vụ án dân sự. B: CA; B: C. Yêu cầu độc lập của A khi giải quyết vụ việc dân sự xác định là yêu cầu phản tố của bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn tham gia các phiên làm việc tại Tòa theo đúng quyền hạn; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan B nhận các văn bản tố tụng, tiến hành niêm yết văn bản tố tụng của A theo quy định, có bản tự khai gửi tại A. A nhân dân quận C ra quyết định xét xử theo đúng thời hạn luật định. Tại phiên tòa ngày 03/06/XX, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nên A xét xử đã ra Bản hoãn phiên tòa số: 93/XX/QĐST-HPT ngày 03 tháng 06 năm XX. Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, Tòa án triệu tập bị đơn lần thứ hai tại phiên tòa những vắng mặt không có lý do. A, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, A xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về nguồn gốc nhà số 23 tổ 1 làng A, phường A, quận B, thành phố C (nay là số 8 ngõ 42 A, phường A, quận B, thành phố C) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố C, cấp ngày 10/01/XX đứng tên A và bà B.
Theo tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã xác A Sinh và bà B là vợ chồng (theo xác nhận thông tin trong lý lịch công viên của bà B). Nhận thấy tài sản mà nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa C và bà Tú; A là tài sản chung của vợ chồng cùng tôn tạo.
[3.2] A và bà Tú có năm người con là: B, sinh năm XX; C, sinh năm XX; A, sinh năm XX; B, sinh năm XX; C, sinh năm XX. Ngoài 05 người con chung của cụ Sinh và cụ A không có con riêng con ngoài giá thú. Khi cụ Sinh mất xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ có vợ và các con vì bố mẹ mất từ lâu. C mất để lại di chúc lập ngày 10 tháng 10 năm XX. Ngày 20 tháng 08 năm XX cụ Tú cùng các con đã lập biên bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, theo thỏa thuận A thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho các em cụ thể: Thanh toán cho bà B: 64.000.000 đồng; Thanh toán cho B: 128.000.000 đồng; Thanh toán bà A 64.000.000 đồng; Thanh toán C 128.000.000 đồng. A mất năm XX.
[3.3] Về bản di chúc của cụ Sinh lập ngày 10 tháng 10 năm XX A xét xử xét thấy căn cứ Điều 653,655 BLDS năm XX di chúc của cụ phù hợp về hình thức. Về nội dung B tài sản, xác nhận bản di chúc của cụ Sinh ghi là “bố mẹ mong muốn” những di chúc không có ý chí của cụ Tú, thể hiện cụ Tú không ký tên điểm chỉ hay xác nhận nội dung di chúc cụ Sinh lập ngày 10 tháng 10 năm XX, do đó xác định bản di chúc trên chỉ có hiệu lực đối với phần tài sản của cụ Sinh trong khối tài sản chung với cụ Tú trong thời kỳ hôn nhân.
[3.4] Tại biên bản bàn giao thừa kế ngày 20 tháng 8 năm XX do cụ A và các con thỏa thuận thực hiện di chúc của cụ B thể hiện phân chia tài sản theo đúng ý nguyện của cụ Sinh. Như vậy thể hiện C và các thành viên đều công nhận nội dung di chúc của A mặc dù được phân tài sản chung của cụ Tú trong thời kỳ hôn nhân của hai cụ; đồng thời đã xác định giá trị 1/6 tài sản là 128.000.000 đồng, các bên cùng ký và nhận tiền.
Theo văn bản thỏa thuận gia đình, A trực tiếp quản lý sử dụng nhà đất từ năm XX đến nay tuân thủ các thủ tục hành chính của cơ quan có thẩm quyền B phải hoàn tất các thủ tục thực hiện đăng ký biến động quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo thỏa thuận ngày 20 tháng 08 năm XX, C không đồng ý với di sản thừa kế thuộc quyền tài sản của B; không hoàn tất ký nhận A thực hiện theo thỏa thuận. B khởi kiện yêu cầu C công nhận quyền thừa kế đối với nhà đất tại số 23 tổ 1 làng A, phường A, quận B, thành phố C (nay là số 8 ngõ 42 A, phường A, quận B, thành phố C) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố C, cấp ngày 10/01/XX đứng tên A và bà B.
HĐXX xác định không có căn cứ chấp nhận toàn bộ nội dung di chúc của cụ Sinh lập ngày 10 tháng 10 năm XX vì Bản di chúc của cụ Tú năm XX có nhiều điểm mâu thuẫn.
Tại biên bản ngày 20 tháng 08 năm XX ghi rõ “Chiếu theo nguyện vọng của A (Bà đã chết)...” như vậy thỏa thuận phân chia không trái pháp luật, không trái B xã hội nhưng thiếu khúc mắc những mâu thuẫn, không phù hợp pháp luật trong bản di chúc của cụ Tú. Những mâu thuẫn trong bản di chúc của cụ Sinh: Cụ thể cụ Sinh mong muốn nhà đất mang tên cụ Sinh cho cụ thể cúng làm kỷ niệm cho con cháu mâu thuẫn với việc di chúc xác định chia làm 06 phần chia cho từng người. Phần tiếp theo cụ Sinh xác nhận sau khi hai cụ mất sẽ phân chia, việc phân chia 77m2 nhà đất tại ô tô cho 06 phần bằng hiện vật làm nơi thờ cúng là kỷ niệm của ông bà với con cháu là nội dung không phù hợp quy định tại Điều 220 A XX và Bản số 61/XX/QĐ-UBND của thành phố C ngày 27 tháng 09 năm XX về diện tích tối thiểu tách thửa đất.
Như vậy nội dung thỏa thuận lập ngày 20 tháng 08 năm XX thể hiện đúng ý chí cụ Sinh nhưng khúc mắc toàn bộ những bất cập chưa phù hợp pháp luật của cụ Sinh trong bản di chúc, không trái quy phạm A xã hội và các thành viên đều ký biên bản nhận đúng giá trị khu phần theo phân chia cần B xét xử chấp nhận là thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo di chúc lập XX của cụ Sinh, do đó Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C và công nhận quyền tài sản của C đối với nhà đất tại số 23 tổ 1 làng A, phường A, quận B, thành phố C (nay là số 8 ngõ 42 A, phường A, quận B, thành phố C) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố C, cấp ngày 10/01/XX đứng tên A và bà B. C có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký biến động theo quy định pháp luật và không ai được cản trở.
[3.5] Đối với yêu cầu phản tố của A:
Ngày 10/3/XX A có ý kiến đề nghị chia lại tài sản thừa kế, A không đồng ý với biên bản bàn giao thừa kế lập ngày 20 tháng 8 năm XX và đề nghị phải được nhận phần di sản thừa kế của mình đúng quyền hạn của pháp luật (tương ứng 1/6 di sản bằng hiện vật). B xác nhận có nhận 128.000.000 đồng của C vì lý do A không được biết nội dung di chúc của cụ Sinh; không biết ý định phân chia di sản thừa kế nên mặc nhiên coi đó là tiền A B ý cho vợ chồng C phép chăm sóc cụ Tú tại ngôi nhà mang tên chủ sử dụng là cụ Sinh cụ Tú.
Đối với số tiền A nhận B chấp nhận trả lại C quy đổi theo thời giá (giá trị của bất động sản, hoặc vàng, hoặc tỷ giá USD, hoặc lãi suất của ngân hàng) của thời điểm ngày 20/8/XX cho tới ngày A có phán quyết cuối cùng.
A trong quá trình giải quyết vụ án căng thẳng tại phiên tòa B bà Hòa bà C xác nhận: Nội dung biên bản bàn giao thừa kế lập ngày 20 tháng 08 năm XX thể hiện chiều theo nguyện vọng của A, số tiền giá trị mỗi người nhận phân chia theo nguyện vọng của bố (B) và mẹ (C); đồng thời các thành viên tham gia nhận di sản thừa kế xác nhận biên bản lập khi tất cả mọi người đều tự nguyện, minh mẫn không ai bị ép buộc ký hoặc nhận tiền. Vì vậy HĐXX xác định không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố: Bác bỏ văn bản biên bản bàn giao thừa kế lập ngày 20 tháng 08 năm XX và đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật của A.
Trong quá trình giải quyết vụ án, A bảo vệ quyền lợi ích của các bên theo quy định tiến hành trưng cầu thẩm định giá. Theo kết quả thẩm định giá của công ty C bất động sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố A, cấp ngày 10/01/XX đứng tên B và bà C có giá trị 11.883.781.000 đồng.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, A, định giá tài sản tranh chấp nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố tự nguyện chịu nên B xét xử ghi nhận.
Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập; dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác cho các đương sự khi có các tài liệu chứng cứ và có yêu cầu.
[3.6] Về luận cứ bảo vệ của luật sư A và B bản di chúc của cụ Sinh lập ngày 10 tháng 10 năm XX và biên bản bàn giao thừa kế lập ngày 20 tháng 8 năm XX B xét xử đã có quan điểm và không chấp nhận luận cứ của luật sư đề nghị chia cho C 1/6 di sản thừa kế bằng hiện vật.
Đối với quan điểm của luật sư về phần không thống nhất đối với diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố A, cấp ngày 10/01/XX đứng tên B và bà C và biên bản thẩm xét xử nhận thấy thực tế phần đất tên của cụ Tú và Sinh có bao gồm cả diện tích ngõ chung của nhà B và nhà cụ Sinh cụ Tú theo đơn xin mua nhà (số ngõ đi kèm theo) và diện tích nhà xây của cụ Sinh cụ Tú; Sau khi bán đất cho B cụ Sinh và cụ Tú không thực hiện đăng ký biến động nên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố A, cấp ngày 10/01/XX vẫn thể hiện cả diện tích bán ngõ cho B, thực tế hiện trạng di sản không có gì thay đổi. Tại biên bản thẩm định hiện trạng cũng như biên bản thẩm định giá cũng như biên bản thỏa thuận của các thành viên trong gia đình thể hiện di sản thừa kế không bao gồm phần diện tích ngõ vào nhà anh Hùng. Như vậy xác định hiện trạng tài sản và giá trị tài sản không tính trên số mét vuông tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. A nộp Bản mua bán nhà kèm theo đơn xin mua nhà có sự diễn tích ngõ có xác nhận của chính quyền địa phương vì thế không có căn cứ để xem xét giá trị thực tế di sản bao gồm cả phần diện tích ngõ đi vào nhà anh Hùng.
[4] Án phí: B, bị đơn có yêu cầu phản tố là những người cao tuổi căn cứ Điều 13 Nghị quyết 326/UBTVQH14 về án phí lệ phí thì C nên không phải chịu án phí DSST.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận A tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của B xét xử nên ghi nhận.
[5] Về quyền kháng cáo:
A sẽ được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm XX.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên A Bình về việc yêu cầu công nhận quyền tài sản theo thỏa thuận đã ghi nhận tại biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX;
- A được quyền quản lý sử dụng B với bất động sản tại số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố B, cấp ngày 10/01/XX đứng tên C và bà A.
- A tự liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện đăng ký biến B với bất động sản tại số 23 tổ 1 làng C, phường C, quận A, thành phố B (nay là số 8 ngõ 42 C, phường C, quận A, thành phố B) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với hồ sơ gốc số: XX.XX (194.XX.QĐUB) do UBND thành phố B, cấp ngày 10/01/XX đứng tên C và bà A.
- Không ai được cản trở A thực hiện quyền tài sản với bất động sản trên.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của A về việc tuyên biên bản bàn giao thừa kế ngày 20/8/XX là giả mạo và chia di sản thừa kế của cụ B và cụ C theo pháp luật.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không đưa ra yêu cầu độc lập nên A không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác trong trường hợp các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- - A, B được miễn án phí sơ thẩm theo quyền hạn tại Điều 13 Nghị quyết 326/UBTVQH14
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 27 tháng 06 năm XX; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án A niêm yết hợp lệ.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm XX, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bị đơn A thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành A thực hiện theo quyền hạn tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 135 ngày 2025-06-27 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 135
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chia thừa kế
