Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 135/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Lê Quang Vinh

Ông Trần Viết Ty

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị X - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2025/QÐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị O, sinh năm 1989, vắng mặt.

Nơi cư trú: Số 08/27 Nguyễn Mộng Tuân, phường Nam Ngạn, Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2. Bị đơn: Anh Đỗ Huy H, sinh năm 1988, vắng mặt.

Nơi ĐKTT: SỐ H N, phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T (Nay là thôn H), xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Địa chỉ hiện nay: Hàn Quốc (Không rõ địa chỉ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị O trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Huy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã X (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01, quyển số 05, ngày 06/01/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh H tại thôn T (nay là thôn H), xã X, huyện T được khoảng 01 tháng thì anh H tiếp tục sang Hàn Quốc làm ăn. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, thường xuyên liên lạc, quan tâm nhau. Năm 2017 sau khi về thăm gia đình thì anh H tiếp tục sang Hàn Quốc làm ăn và từ đó đến nay chưa về thăm gia đình lần nào. Do sống xa nhau nhiều năm tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, thiếu sự quan tâm đến nhau dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Huy H.

2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Quang M, sinh ngày 28/7/2014. Từ khi cháu Minh S ra cho đến nay cháu M ở với chị, do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M; Chị không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Cháu Đỗ Quang M có nguyện vọng được ở với mẹ.

3. Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về thu thập thông tin địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc: Chị O trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Hàn Quốc do vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Chị không biết địa chỉ của anh H nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị đề nghị Tòa án xác minh thông tin qua bố mẹ đẻ của anh H là ông Đỗ Huy N và bà Lê Thị L, địa chỉ: thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Tại các biên bản làm việc, ông Đỗ Huy N (bố đẻ anh H) trình bày:

Anh Đỗ Huy H và chị Hoàng Thị O kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2012 và có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh H, chị O chung sống cùng vợ chồng ông được khoảng 01 tháng thì chuyển xuống thành phố T sinh sống. Năm 2008 anh H đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, sau khi cưới chị O thì anh H tiếp tục sang Hàn Quốc làm ăn đến nay. Trước đây cứ 1 năm anh H về thăm gia đình 1 lần, nhưng từ năm 2021 đến nay thì anh H chưa về thăm gia đình. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2020 thì anh chị có mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa anh H và chị O cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay chị O có đơn xin ly hôn, gia đình cũng đã báo cho anh H biết và anh H cũng đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị O và anh H được ly hôn

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Quang M, sinh ngày 28/7/2014, ly hôn anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Quang M, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu có sau này anh H về sẽ yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác.

Đến thời điểm này ông vẫn không biết địa chỉ cụ thể nơi ở, nơi làm việc của anh H, chỉ biết anh H vẫn sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng do Tòa án giao và cam đoan có trách nhiệm thông báo cho con ông bà là anh H biết.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị O, xử cho chị Hoàng Thị O được ly hôn anh Đỗ Huy H. Về con: Giao cháu Đỗ Quang M, sinh ngày 28/7/2014 cho chị Hoàng Thị O trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Chị Hoàng Thị O là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Đỗ Huy H đăng ký thường trú tại phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị Hoàng Thị O chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam, không cung cấp được địa chỉ của anh H tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu nhưng ông Đỗ Huy N là bố đẻ của anh H trình bày không biết địa chỉ của anh H ở Hàn Quốc. Theo ông N thì thực tế hiện nay anh H đang ở Hàn Quốc, anh H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, nhưng không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể. Ông N đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh H. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị O có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh H mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân:

Chị Hoàng Thị O và anh Đỗ Huy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị O đều trình bày vợ chồng chị mâu thuẫn nhiều năm nay, tình cảm vợ chồng thực sự không còn. Từ năm 2017 sau khi anh H về thăm gia đình thì anh H tiếp tục sang Hàn Quốc làm ăn và cũng từ thời gian đó anh H không về thăm gia đình, vợ con. Tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn sự quan tâm chăm sóc và liên lạc với nhau. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh H đã trầm trọng, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị O được ly hôn anh H là phù hợp.

[2.2]. Về con chung:

Anh chị có 01 con chung là cháu Đỗ Quang M, sinh ngày 28/7/2014. Xét thấy nguyện vọng của chị O xin được trực tiếp nuôi cháu Đỗ Quang M là chính đáng vì hiện nay anh H đang lao động tại Hàn Quốc, không thể trực tiếp nuôi con được mặc dù anh H cũng có ý kiến thông qua người thân về việc đề nghị xin được trực tiếp nuôi cháu M; Hiện tại cháu M đang ở với chị O, do chị O trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu M là muốn được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo các điều kiện về mọi mặt cho con cần giao cháu Đỗ Quang M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Chị O tự nguyện không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng tiền nuôi con; Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị O về nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:

Chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với anh H sau này nếu yêu cầu thì có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí:

Chị O là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị O.

  • - Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị O được ly hôn anh Đỗ Huy H.
  • - Về con: Công nhận cháu Đỗ Quang M sinh ngày 28/7/2014 là con chung của chị Hoàng Thị O và anh Đỗ Huy H. Giao cháu Đỗ Quang M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Đỗ Huy H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  • - Về tài sản: Chị O không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị O phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị O đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu số 0000661 ngày 17/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa (chị O đã nộp đủ).

3. Quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị O có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật

Anh Đỗ Huy H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân,
  • tỉnh Thanh Hóa (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 135/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình nên chị Hoàng Thị O khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đỗ Huy H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger