Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/HS-ST

Ngày: 17-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hằng

2. Ông Nguyễn Đình Vụ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2025/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Hồng S, sinh năm: 1992;

Nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ căn cước công dân: 03809013097, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn M (chết) và bà: La Thị D, sinh năm 1961; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 16/12/2024, tạm giam ngày 23/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Phân trại tạm giam khu vực thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm: 1990; Địa chỉ: SN I Đ, phường B, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
  2. Chị Trần Thị P, sinh năm: 1991; Địa chỉ: S H, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trong khoảng trong khoảng thời gian từ 01/4/2024 đến ngày 16/12/2024, Phạm Hồng S đã cho 02 cá nhân vay 04 lần tiền với lãi suất từ 146% đến 219%/năm, cao hơn gấp từ 7,3 lần đến 10,95 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền S sử dụng cho vay là 290.000.000 đồng; tổng số tiền lãi người vay phải trả cho S là 255.500.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 32.416.437 đồng, số tiền S nhằm thu lợi bất chính là 223.083.563 đồng. Đến thời điểm bị phát hiện (ngày 16/12/2024), S đã thu được tổng số tiền lãi là 230.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 29.260.273 đồng và số tiền S thu lợi bất chính là 201.439.727 đồng. Cụ thể:

  1. Cho chị Nguyễn Thị Như Q vay 02 lần tiền:
    • - Gói 1: Ngày 01/4/2024, Phạm Hồng S đã cho chị Q vay số tiền 100.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận 5.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày (trả theo tháng và 01 tháng tính bằng 30 ngày) tương ứng mức lãi suất vay 182,5%/1 năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định. Từ ngày01/4/2024 đến 31/5/2024, chị Q đã trả cho S 02 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 3.287.671 đồng, số tiền S thu lợi bất chính được xác định là 26.712.329 đồng.
    • - Gói 2: Ngày 01/6/2024, S tiếp tục cho chị Q vay thêm số tiền 150.000.000 đồng (tổng số tiền của cả gói 1 là 250.000.000 đồng) với mức lãi suất thỏa thuận 5.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày (trả theo tháng và 01 tháng tính bằng 30 ngày) tương ứng mức lãi suất vay 182,5%/năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định. Từ 01/6/2024 đến 30/6/2024, chị Q đã trả cho S 01 tháng tiền lãi là 37.500.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 4.109.589 đồng, số tiền S thu lợi bất chính được xác định là 33.390.411 đồng.
    • Từ ngày 01/7/2024, chị Q xin hạ mức lãi suất vay từ 5.000 đồng/01 triệu/01 ngày xuống 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày thì S đồng ý, tương ứng mức lãi suất vay 146%/năm, cao gấp 7,3 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định. Tính đến thời điểm bị phát hiện (ngày 16/12/2024), chị Q phải trả cho S số tiền lãi phát sinh là 166.000.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 22.739.726 đồng, số tiền S nhằm thu lợi bất chính được xác định là143.260.274 đồng. Từ ngày 01/7/2024 đến ngày 16/12/2024, chị Q đã trả cho S 5 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 20.547.945 đồng, số tiền S thu lợi bất chính được xác định là 129.452.055 đồng. Đến nay, chị Q chưa trả tiên gốc vay cho S.
  2. Cho chị Trần Thị P, sinh năm 1991, trú tại: 6 H, phường Đ, thành phô Thanh H vay 02 lần tiền:
    • - Gói 1: Ngày 01/7/2024, S đã cho chị P vay số tiền 20.000.000 đồng với mức lãi suất thỏa thuận 6.000 đồng/01 triệu đông/01 ngày (trả theo tháng và 01 tháng tính bằng 30 ngày) tương ứng mức lãi suất vay 219%/năm, cao gấp 10,95 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định. Từ ngày 01/7/2024 đến 30/9/2024, chị P đã trả cho S 02 tháng tiền lãi với tổng số tiền là7.200.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là657.534 đồng, số tiền S thu lợi bất chính được xác định là 6.542.466 đồng. Chị P đã trả tiền gốc vay cho S.
    • - Gói 2: Ngày 02/10/2024, S cho chị P vay số tiền 40.000.000 đồng (trong đó S sử dụng số tiền 20.000.000 đồng mà chị P trả của gói vay trước để tiếp tục cho chị P vay) với mức lãi suất thỏa thuận 5.000 đông/01 triệu đông/01 ngày (trả theo tháng và 01 tháng tính băng 30 ngày) tương ứng mức lãi suất vay 182,5%năm, cao gấp 9,125 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định. Tính đến thời điểm bị phát hiện ngày 16/12/2024 (74 ngày), chị P phải trả cho S số tiền lãi phát sinh là 14.800.000 đồng. Trong đó, số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 1.621.917 đồng, số tiền S nhằm thu lợi bất chính được xác định là 13.178.083 đồng. Chị P đã trả cho S 01 tháng tiền lãi với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 657.534 đồng, số tiền S thu lợi bất chính được xác định là 5.342.466 đồng. Đến nay, chị P chưa trả tiền gốc vay cho S.

Ngày 16/12/2024, Phạm Hồng S đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 16/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Hồng S. Kết quả: không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Về phần dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Như Q, chị Trần Thị P yêu cầu Phạm Hồng S phải trả lại số tiền lãi thu lời bất chính đã thu.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã xác định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai.

Cáo trạng số 91/CT- VKSTP ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Phạm Hồng S về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 46, 47 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hồng S từ 12 đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 80.000.000₫ -100.000.000₫.

Về biện pháp tư pháp:

  • + Truy thu số tiền lãi bị cáo thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự 29.260.273 đồng.
  • + Buộc bị cáo phải trả số tiền thu lời bất chính cho người vay là 201.439.727 đồng gồm chị Nguyễn Thị Như Q số tiền 189.554.795 đồng, chị Trần Thị P số tiền 11.884.932 đồng.
  • + Truy thu từ chị Nguyễn Thị Như Q số tiền gốc chưa trả cho Phạm Hồng S là 250.000.000₫.
  • + Truy thu từ chị Trần Thị P số tiền gốc chưa trả cho Phạm Hồng S là 40.000.000₫.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân khi phạm tội và giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên từ ngày 01/4/2024 đến ngày 16/12/2024 Phạm Hồng S đã cho 02 khách hàng vay tiền với lãi suất cao với mức lãi suất từ 146% đến 219%/năm (cao gấp từ 7,3 đến 10,95 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS. Tổng số tiền S sử dụng cho vay là 290.000.000 đồng; tổng số tiền lãi người vay đã trả cho S là 230.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa S được thu theo quy định là 29.260.273 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 201.439.727 đồng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Phạm Hồng S phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà còn mang tính chất bóc lột, làm cho những người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng, gia đình ly tán, nợ nần chồng chất và còn là nguyên nhân gia tăng hoạt động bạo lực, uy hiếp sử dụng vũ lực, chiếm đoạt, cưỡng đoạt tài sản của người vay hoặc người thân trong gia đình. Bị cáo nhận thức đầy đủ pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi và thái độ xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú, có thời gian tham gian quân ngũ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại i, s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Với tính chất vụ án cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này bị cáo phạm tội, có thu lời bất chính, do đó cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo để nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 201 của BLHS.

[6]. Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017, Phạm Hồng S đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là 29.260.273 đồng. Xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền lãi này để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc Phạm Hồng S phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị Như Q, Chị Trần Thị P số tiền 201.439.727 đồng, cụ thể trả cho chị Nguyễn Thị Như Q số tiền 189.554.795 đồng, chị Trần Thị P số tiền 11.884.932 đồng.
  • - Truy thu của chị Nguyễn Thị Như Q số tiền gốc vay chưa thanh toán cho bị cáo Phạm Hồng S số tiền 250.000.000₫.
  • - Truy thu của chị Trần Thị P số tiền gốc vay chưa thanh toán cho bị cáo Phạm Hồng S số tiền 40.000.000₫.

[6]. Về án phí: Đối với khoản thu lời bất chính bị cáo phải trả lại cho người vay tiền, căn cứ vào Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì không buộc bị cáo phải chịu án phí.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 2,3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Phạm Hồng S phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

Bị cáo Phạm Hồng S 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung:

Phạt bị cáo Phạm Hồng S số tiền 80.000.000₫ để thu nộp Ngân sách nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Truy thu bị cáo Phạm Hồng S số tiền do phạm tội mà có 29.260.273đ để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc Phạm Hồng S phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Nguyễn Thị Như Q, Chị Trần Thị P số tiền 201.439.727 đồng, cụ thể trả cho chị Nguyễn Thị Như Q số tiền 189.554.795 đồng, chị Trần Thị P số tiền 11.884.932 đồng.
  • - Truy thu của chị Nguyễn Thị Như Q số tiền gốc vay chưa thanh toán cho bị cáo Phạm Hồng S số tiền 250.000.000₫.
  • - Truy thu của chị Trần Thị P số tiền gốc vay chưa thanh toán cho bị cáo Phạm Hồng S số tiền 40.000.000đ.

Án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Quyết định bản án được thi hành:

theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngay kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Văn phòng CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 135/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger