|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:135/2024/HS-ST
Ngày: 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Sơn
- Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái T – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/HSST ngày 24/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024 đối với bị cáo:
TRẦN VĂN H; Tên gọi khác: Đen; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1998.
Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 02/12.
Nghề nghiệp: Không.
Cha: Trần Văn L (Chết).
Mẹ: Võ Thị M, sinh năm 1957. Nghề nghiệp: Làm nông.
Hiện trú tại thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ năm.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 17/5/2022, Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 60/2022/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/12/2023, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo đang chấp hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma tuý tỉnh Bình Thuận theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 17/QĐ-TA ngày 20/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- Bà Trần Thị S, sinh năm 1965( có đơn xin vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968 có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn H là đối tượng đang có tiền án. Trong thời gian chưa được xóa án tích, Trần Văn H có hành vi trộm cắp tài sản xảy ra tại thôn D, xã H, huyện H, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, Trần Văn H đi bộ từ nhà ra bờ suối ở thôn D, xã H, huyện H. Khi đi ra đến đường đất thấy có một xe mô tô, biển số 86F7-9610, nhãn hiệu Lifan, màu nâu của bà Trần Thị S, sinh năm 1965, trú cùng thôn đang dựng trên đường (gần vườn thanh long nơi bà S cắt cỏ), trên xe có cắm sẵn chìa khoá. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi, H đi đến chỗ để xe mô tô, mở khoá nổ máy rồi điều khiển xe mô tô đi đến thành phố P tìm người bán. Khi H lấy trộm xe mô tô thì bị bà S phát hiện nhưng không kịp đuổi theo nên bà S đến gặp mẹ H là bà Võ Thị M, sinh năm 1957, cùng trú tại thôn D, xã H kể lại sự việc. Bà M gọi điện thoại cho H yêu cầu mang xe về trả cho bà S. Sau đó, H chạy xe về Công an xã H giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Lần thứ hai: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, Trần Văn H đi bộ trên tuyến đường H theo hướng thôn D, xã H - Quốc lộ A. Khi đến khu vực ruộng lúa gần Cầu Q tại thôn D, xã H thì thấy xe mô tô, biển số 86F6-4713, nhãn hiệu Damsel, màu nâu của ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968, cùng trú tại thôn D, xã H đang dựng bên đường không có người trông coi, trên xe có cắm chìa khoá. Lúc này, H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài. H đến vị trí xe mô tô lén lút mở khoá nổ máy xe rồi điều khiển xe chạy ra Quốc lộ A đi đến P tìm người bán xe nhưng không được. Sau đó, H điều khiển xe mô tô, biển số 86F6-4713 về lại xã H, trên đường về đến xã H thì bị Công an xã H phát hiện mời về trụ sở làm việc, tại đây H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện H kết luận:
- + 01 xe mô tô biển số 86F7-9610, nhãn hiệu Lifan, màu sơn nâu, dung tích xi lanh 93cm³, sản xuất năm 2001, xe hoạt động bình thường. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 20/5/2024 là 3.833.000 đồng.
- + 01 xe mô tô biển số 86F6-4713, loại xe nữ, nhãn hiệu Damsel, màu sơn nâu, dung tích xi lanh 97cm³, sản xuất năm 2001, xe hoạt động bình thường. Trị giá tài sản tại thời điểm định giá ngày 27/5/2024 là 3.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- - 01 xe mô tô, biển số 86F7-9610, nhãn hiệu Lifan, màu sơn nâu. Sau khi làm rõ, Công an xã H đã trả lại cho bà Trần Thị S là chủ sở hữu.
- - 01 xe mô tô, biển số 86F6-4713, nhãn hiệu Damsel, màu nâu. Sau khi làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý tài liệu, đồ vật trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 là chủ sở hữu.
Về dân sự: Các bị hại Nguyên Văn H2, Trần Thị S sau khi nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 130/CT/VKSHTB ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 01 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người bị hại, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của những người bị hại không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án nên căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.
[3] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 20/5/2024, tại đường đất thuộc thôn D, xã H, huyện H, Trần Văn H lợi dụng lúc không có người trông coi đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 86F7-9610, nhãn hiệu Lifan, màu nâu của bà Trần Thị S. Tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 3.833.000 đồng. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, tại khu vực Cầu Q, tuyến đường H thuộc thôn D, xã H, Trần Văn H tiếp tục lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, biển số 86F6-4713, nhãn hiệu Damsel, màu nâu của ông Nguyễn Văn H1. Tài sản bị chiếm đoạt qua định giá là 3.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị Trần Văn H chiếm đoạt qua định giá là 7.333.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của công dân mà còn tạo dư luận xấu, gây mất trật tự trị an cho xã hội thực hiện với lỗi cố ý.
Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng” quy định tại khoản 01 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, thế nhưng với bản chất lười biếng, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu sài nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích và trong vụ án này bị cáo phạm tội 02 lần, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ phạm tội 02 lần trở lên” và “ tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo với hành vi phạm tội của mình, đã ra đầu thú hành vi phạm tội vào ngày 20/5/2024 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát nhân huyện H đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[7] Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo, thấy rằng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe cải tạo giáo dục riêng và tuyên truyền phòng chống tội phạm chung.
[8] Bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng theo Quyết định số 17/QĐ-TA ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Trong vụ án này bị cáo bị xử phạt tù giam nên theo Quy định tại Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo được miễn chấp hành thời gian áp dụng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn lại theo Quyết định số 17/QĐ-TA ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc
[9] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý theo đúng quy định trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét lại nữa
[10] Về dân sự: Người bị hại bà Trần Thị S và ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện trong quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bội thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 01 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Trần Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
Căn cứ Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính:
Miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn lại cho bị cáo theo Quyết định số 17/QĐ-TA ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Về án phí: Áp dụng: Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hơn |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Hưng - Trộm cắp tài sản
