Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YỸ

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 20-11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1. Ông Vũ Minh Đ - Nguyên cán bộ đoàn thanh niên
  • 2. Bà Vũ Thị Th - Chủ tịch Hội phụ nữ huyện Y
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.
  • - Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Hoàng Thị Phương D- Kiểm sát viên.

Trong ngày 20/11/2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/TLST -HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Cao Xuân N, sinh năm 1997; HKTT: Khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: Tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Văn C, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị C1, sinh năm 1968; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

Cháu Lý Văn M, sinh ngày 30/4/2008. Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu M: Bà Hoàng Thị H, sinh năm: 1988 - Là mẹ đẻ. Vắng mặt.

Đều địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Hoàng Thị H, sinh năm: 1988.
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

  3. Cháu Phạm Thanh T, sinh ngày 24/02/2007
  4. Người đại diện theo pháp luật của cháu T: Ông Phạm Anh P, sinh năm: 1977 - Là bố đẻ.

    Đều địa chỉ: Tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

    Đều vắng mặt.

  5. Anh Phạm Văn V, sinh năm 1985. Có mặt.
  6. Địa chỉ: Phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

Anh Lý Văn T1, sinh năm 1990. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01/7/2024, Cao Xuân N, sinh năm 1997, HKTT tại khu phố C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa hiện đang thuê trọ tại tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên sử dụng điện thoại Redmi màu xanh của N gọi điện cho bạn là Lý Văn M, sinh ngày 30/4/2008, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, hiện ở trọ tại thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh bảo M đến đón N đi chơi, M đồng ý. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 22YA - 035.44 màu xám-trắng (mượn của mẹ đẻ là bà Hoàng Thị H, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang) đi cùng bạn ở khu trọ tên Đ (không xác định được nhân thân lai lịch) đến thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên gặp N, tại đây, N là người điều khiển xe mô tô của anh M, chở anh M và anh Đ ngồi sau đến thôn L, xã L, huyện Y để uống nước. Sau đó N đã hỏi mượn xe mô tô của anh M đi đến thành phố H chơi. Trong quá trình sử dụng xe mô tô, Nguyên phát hiện phía bên trong cốp xe còn có 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô BKS 22YA - 035.44, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng bản 128 Gb bên ngoài có ốp bằng nhựa màu hồng, bên trong có lắp thẻ sim loại Viettel trả trước số thuê bao 0377.926.754, 01 căn cước công dân của Lý Văn M, nên N đã sử dụng ứng dụng mạng xã hội zalo gọi hỏi mượn Mão chiếc điện thoại này để sử dụng, M đồng ý và cung cấp mật khẩu chiếc điện thoại cho N sử dụng.

Do đợi lâu không thấy N mang xe về, Lý Văn M liên lạc với N mang xe về trả thì N lấy lý do đang ở xa, đồng thời hỏi Mão số tài khoản và chuyển cho M số tiền 200.000 đồng để Mão thuê nhà nghỉ ngủ. Sáng ngày 02/7/2024, N tiếp tục chuyển cho M số tiền 100.000 đồng để M và anh Đ ăn sáng. Lý Văn M liên tục liên lạc qua zalo gọi N mang xe về nhưng N đều lấy lý do đang ở xa. Để có thêm tiền chi tiêu, khoảng 09 giờ ngày 02/7/2024, N đã mang chiếc điện thoại di động Iphone 11 của Lý Văn M đến cửa hàng mua bán điện thoại di động (Nguyên không nhớ địa chỉ và tên cụ thể của cửa hàng) trên địa bàn xã L, huyện Y để cầm cố chiếc điện thoại lấy 1.000.000 đồng (N không nói nguồn gốc tài sản cho người cầm cố biết). Đến khoảng 10 giờ ngày 02/7/2024, N tiếp tục chuyển khoản cho M số tiền 500.000 đồng để M và anh Đ bắt xe về Bắc Ninh. Đến ngày 03/7/2024, N đã bỏ ra số tiền 1.100.000 đồng chuộc lại chiếc điện thoại để sử dụng. Ngày 04/7/2024, do chiếc điện thoại bị hỏng và M liên tục gọi N để đòi xe và điện thoại, N đã vứt chiếc điện thoại, thẻ sim số thuê bao 0377.926.754, chiếc ốp bằng nhựa màu hồng và căn cước công dân của anh M tại thành phố H (không xác định được địa điểm cụ thể).

Ngày 05/7/2024, N mang xe mô tô BKS 22YA - 035.44 và bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 22YA - 035.44 đến cửa hàng “Anh Phương Cầm Đồ” của anh Phạm Anh P, sinh năm 1977, tại Tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để cầm cố, do anh P đi vắng, tại đây N gặp con trai anh P là Phạm Thanh T, sinh ngày 24/02/2007, trú tại thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. N đã nói với T xe N đi mượn nhưng không nói cho T biết việc Lý Văn M không cho mượn để cầm cố và hẹn khi nào anh P về sẽ thỏa thuận cụ thể về lãi sau. T đồng ý cho N để lại xe và cầm cố với số tiền 5.000.000 đồng, việc cầm cố không lập thành văn bản. Cùng trong ngày 05/7/2024 và ngày 06/7/2024, T còn cho N vay thêm số tiền 6.500.000 đồng. Số tiền cầm cố và cho vay đều qua hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng Q (M1) số 0826288282 của Phạm Thanh T đến tài khoản ngân hàng T3 (T4) số 00000072877 của Cao Xuân N.

Do bị Lý Văn M liên tục yêu cầu mang xe và điện thoại về trả nên ngày 16/7/2024 và ngày 17/7/2024, N đã nói cho M biết việc N đã mang chiếc xe đến cầm cố cho T tại cửa hàng cầm đồ nêu trên và muốn có thêm tiền từ M nên N thống nhất với T nói với M số tiền cầm cố là 13.000.000 đồng và cung cấp địa chỉ cho Lý Văn M đến chuộc xe. Khi được cung cấp địa chỉ, ngày 17/7/2024, Lý Văn M đã trình báo Công an xã L. Cùng ngày, Công an xã L đã quản lý của T 01 chiếc xe mô tô BKS 22YA - 035.44, 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô BKS 22YA - 035.44 và chuyển toàn bộ hồ sơ cùng đồ vật, tài liệu có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 34/KL-ĐG ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 22YA - 035.44 màu X - Trắng trị giá 17.550.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu Trắng, bản 128Gb, bên trong lắp 01 (một) thẻ S1 0377.926.754 trị giá 7.825.000 đồng; 01 (một) chiếc ốp nhựa màu hồng đã qua sử dụng trị giá 20.000 đồng. Tổng cộng trị giá 25.395.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: Ngày 24/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Hoàng Thị H là chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô BKS 22YA-035.44; đối với điện thoại Iphone 11 bản 128 Gb, 01 căn cước công dân, 01 thẻ sim Viettel và 01 ốp điện thoại của Lý Văn M, Cao Xuân N đã vứt trên địa bàn tỉnh Hải Dương không xác định được địa điểm cụ thể; điện thoại Redmi màu xanh của N đã làm rơi mất nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không quản lý được.

- Kết quả điều tra xác định Phạm Thanh T, khi nhận cầm cố xe cho Cao Xuân N, không biết xe do phạm tội mà có, do vậy không xem xét xử lý về hình sự đối với T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã gửi công văn đến Công an huyện M xem xét xử lý về hành chính đối với Phạm Thanh T theo thẩm quyền về hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”.

Đối với hành vi của bà Hoàng Thị H giao xe mô tô BKS 22YA-035.44 cho Lý Văn M điều khiển, sử dụng khi Lý Văn M chưa có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã có văn bản gửi Công an huyện Y để xem xét xử lý về hành vi hành chính.

Đối với hành vi của bị cáo N và T về việc thống nhất nâng số tiền cầm cố lên 13.000.000 đồng để bị hại đến chuộc, nhưng bị hại không đến chuộc xe mà báo Công an xã L, huyện Y đến tạm giữ phương tiện do T cầm cố nên không có căn cứ để xử lý Cao Xuân N và Phạm Thanh T về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Cao Xuân N đã tác động gia đình và anh Phạm Văn V, sinh năm 1985 là anh rể của N bồi thường cho Lý Văn M và đại diện gia đình Mão số tiền 20.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

Phạm Thanh T yêu cầu bị cáo N trả lại số tiền 5.000.000 đồng là tiền cầm cố xe, đối với số tiền 6.500.000 đồng T cho N vay T không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Quá trình điều tra, bị cáo Cao Xuân N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 132/CT-VKS-YM ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Cao Xuân Nguyên về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Cao Xuân N và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 Bộ luật dân sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Xuân N từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 28/8/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ còn đề nghị về đường lối xử lý trách nhiệm dân sự và án phí trong vụ án.

- Bị cáo N nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.

* Người bị hại: Cháu Lý Văn M trình bày gia đình cháu đã nhận đủ của gia đình bị cáo khoản tiền bồi thường là 20.000.000đồng và không có ý kiến đề nghị gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn V trình bày anh là anh rể của bị cáo Cao Xuân N, khi bị cáo N bị tạm giam có nhờ anh về cho gia đình bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình cháu Lý Văn M. Anh đã bồi thường thay bị cáo N cho gia đình cháu M là 20.000.000 đồng, anh xác định số tiền này là của anh. Anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại anh số tiền này.

* Người làm chứng: Anh Lý Văn T1 trình bày, anh là chú ruột của cháu Lý Văn M và là người trực tiếp nhận 20.000.000 đồng mà gia đình bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình cháu M, anh đã đưa lại số tiền 20.000.000đồng này cho mẹ cháu M.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

Về tố tụng: Tại phiên tòa người đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra họ đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 23 giờ ngày 01/7/2024, tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Cao Xuân N mượn chiếc xe mô tô Honda Wave alpha BKS 22YA - 035.44 trị giá 17.550.000 đồng của Lý Văn M để đi đến thành phố H chơi. Trong quá trình sử dụng xe mô tô, Nguyên phát hiện phía bên trong cốp xe còn có 01 bản phô tô đăng ký xe mô tô BKS 22YA - 035.44, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng bản 128 Gb có lắp thẻ sim loại S1 trả trước số thuê bao 0377.926.754 trị giá 7.825.000 đồng kèm ốp điện thoại trị giá 20.000 đồng, 01 căn cước công dân của cháu Lý Văn M nên bị cáo Cao Xuân N mượn Mão chiếc điện thoại này để sử dụng, M đồng ý và cung cấp mật khẩu chiếc điện thoại cho bị cáo N sử dụng. Sau khi được giao tài sản do thiếu tiền tiêu sài, bị cáo N đã mang tài sản đi cầm cố trái pháp luật, cụ thể: Ngày 02/7/2024, N đã cầm cố điện thoại tại địa bàn xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên được 1.000.000 đồng; ngày 05/7/2024, N cầm cố xe mô tô tại cửa hàng “Anh P cầm đồ” ở tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên được 5.000.000 đồng, toàn bộ số tiền N cầm cố được đã tiêu sài cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản bị cáo Cao Xuân N chiếm đoạt của Lý Văn M là 25.395.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo N hai lần mang tài sản đi cầm cố phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu sài của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 24/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 22YA - 035.44 màu xám-trắng cho bà Hoàng Thị H. Bà H không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết.

Bị cáo Cao Xuân N đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại và anh Phạm Văn V, sinh năm 1985 là anh rể của bị cáo bồi thường cho Lý Văn M và đại diện gia đình M số tiền 20.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu về phần dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Đối với cháu Phạm Thanh T cầm cố xe cho bị cáo N 5.000.000 đồng nhưng không biết bị cáo cầm cố xe do phạm tội mà nên buộc bị cáo phải trả lại cho cháu T 5.000.000 đồng.

Đối với số tiền 6.500.000 đồng cháu T cho bị cáo N vay, cháu T không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

[7] Đối với Phạm Thanh T khi nhận cầm cố xe của bị cáo Cao Xuân N không biết xe do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã gửi công văn đến Công an huyện M xem xét xử lý về hành chính đối với Phạm Thanh T theo thẩm quyền về hành vi “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”.

Đối với bà Hoàng Thị H giao xe mô tô BKS 22YA-035.44 cho Lý Văn M điều khiển, sử dụng khi Lý Văn M chưa có giấy phép lái xe theo quy định, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã có văn bản gửi Công an huyện Y để xem xét xử lý về hành vi hành chính.

Đối với hành vi của bị cáo N và Phạm Thanh T về việc thống nhất nâng số tiền cầm cố lên 13.000.000 đồng để bị hại đến chuộc, nhưng bị hại không đến chuộc xe mà báo Công an xã L, huyện Y đến tạm giữ phương tiện do T cầm cố nên không có căn cứ để xử lý Cao Xuân N và Phạm Thanh T về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 Bộ luật dân sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Xuân N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Cao Xuân N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Cao Xuân N.

Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Cao Xuân N phải trả cháu Phạm Thanh T, sinh ngày 24/02/2007 số tiền 5.000.000 đồng. Người đại diện theo pháp luật của cháu T: Ông Phạm Anh P, sinh năm: 1977 - Là bố đẻ. Đều địa chỉ: Tổ dân phố B, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ và Cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền phải trả lại cho bị hại thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Buộc bị cáo Cao Xuân N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Xuân N, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YỸ TỈNH H về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YỸ TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Xuân N phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger