Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 13/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hùng
  2. Ông Nguyễn Danh Long

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 13/11/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS, ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lý Văn T

sinh ngày 15/9/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ĐKHK, chỗ ở: Thôn T, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn B (đã chết); con bà Lưu Thị H, sinh năm 1964; vợ: Lê Thị N, sinh năm 1985; con: Có 01 con, sinh năm 2019; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba;

Tiền án: Có 02 tiền án,

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2020/HSST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, án phí HSST 200.000đ, án phí DSST 650.000đ, bồi thường số tiền 13.000.000đ (phạm tội ngày 23/8/2019).
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (phạm tội ngày 16/6/2020). Tổng hợp hình phạt 01 năm 03 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2020/HSST ngày 09/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc Lý Văn T phải chấp hành

hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 năm 09 tháng tù, án phí HSST 200.000đ, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 200.000đ. Ngày 16/3/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

  • - Người bị hại: Trương Minh Q, sinh năm 1992; Nơi ĐKHK, chỗ ở: Thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; (Vắng mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Đức H1, sinh năm 1973; Nơi ĐKHK, chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024, Lý Văn T là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền đi mua ma túy về sử dụng. T một mình đi bộ theo đường bê tông liên thôn từ nhà đến thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Khi đi đến cổng nhà anh Trương Minh Q, T quan sát thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star, màu sơn đen, biển số đăng ký 22B1-907.89 dựng ở sân, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa, không có người trông coi quản lý. T đi vào dắt xe mô tô ra cổng rồi nổ máy điều khiển xe đi theo đường bê tông về hướng xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên đường đi T dừng lại mở bình xăng xe để kiểm tra thì phát hiện trong cốp xe có 01 giấy bán xe đề ngày 21/12/2022 của cửa hàng mua bán xe máy viết cho Trương Văn H2 (trú tại thôn H, xã N, huyện S, là em họ của Q, xe đã được H2 bán lại cho Q). T tiếp tục điều khiển xe mô tô đến nhà Trần Đức H1 tại tổ dân phố L, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc hỏi vay số tiền 2.000.000đ và để lại chiếc xe mô tô làm tin khi nào trả tiền sẽ lấy lại xe. T không nói cho H1 biết xe mô tô do T trộm cắp mà có.

Sau đó T thuê taxi của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ đến khu vực ngã tư xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ 1.400.000₫ ma túy, được 01 gói, gói bằng túi nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng. T đi bộ về nhà và cất giấu gói ma túy vừa mua được tại buồng ngủ của T, khoảng 18 giờ cùng ngày, T lấy một ít ma túy sử dụng bằng hình thức tiêm chích vào cơ thể, Khoảng 09 giờ ngày 04/8/2024, T tiếp tục lấy một ít ma túy để sử dụng, phần còn lại gói lại cất dưới đệm trong buồng ngủ, khi T vừa sử dụng ma túy xong thì Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S đến xác minh nguồn tin tội phạm, T tự giác giao nộp 01 gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng, T khai là Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 1064/KL - KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Mẫu vật thu giữ của Lý Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại heroine, có tên khoa học là D, khối lượng 0,296g (không phẩy hai chín sáu gam).

Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 05/8/2024 của Hội đồng địn giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star, biển kiểm soát 22B1-907.89, màu sơn đen tính đến thời điểm tháng 8/2024 trị giá 14.096.500₫ (Mười bốn triệu không trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star, biển kiểm soát 22B1-907.89, màu sơn đen, ngày 23/9/2024 đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trương Minh Q; 01 phong bì niêm phong dán kín bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

Về dân sự: Bị hại Trương Minh Q đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì; anh Trần Đức H1 yêu cầu bị cáo Lý Văn T trả lại số tiền 2.000.000đ.

Tại Cáo trạng số 130/CT-VKSSD, ngày 10/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Lý Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm hai tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (06/8/2024).

Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Đức H1 số tiền 2.000.000₫.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Lý Văn T, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
  • - Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

  • [1.1] Về hành vi trộm cắp tài sản: Khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024 tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Lý Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star, biển kiểm soát 22B1-907.89, màu sơn đen, trị giá 14.096.500đ (Mười bốn triệu không trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng) của anh Trương Minh Q.
  • [1.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Hồi 09 giờ ngày 04/8/2024, Lý Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,296g (không phẩy hai chín sáu gam) Heroine, tại nhà ở của T, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Lý Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây bất bình trong dư luận xã hội, mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lười lao động, để có tiền mua ma túy, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Hành vi tàng trữ chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và là nguyên nhân dẫn tới lây truyền bệnh HIV, bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án, nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo mình trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tái phạm theo quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị hại anh Trương Minh Q đã nhận lại tài sản, không đề nghị bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Đức H1 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 2.000.000đ, bị cáo nhất trí với yêu cầu của anh H1. HĐXX xét thấy yêu cầu của anh H1 là phù hợp, bị cáo T nhất trí với yêu cầu của anh H1, nên chấp nhận, buộc bị cáo phải trả cho anh H1 số tiền 2.000.000đ.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Lý Văn T, các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Lý Văn T, Công an huyện S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức Cảnh cáo.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lý Văn T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (06/8/2024).

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 589; 357 Bộ luật Dân sự.

    Bị cáo Lý Văn T có nghĩa vụ trả cho anh Trần Đức H1 số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

    Khoản tiền phải trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh H1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, nếu bị cáo chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lý Văn T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lý Văn T giám định ngày 05/8/2024".

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)

  4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo Lý Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng);

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    “Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Minh Hùng - Nguyễn Danh Long

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Minh Khánh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Ninh Lai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .1] Về hành vi trộm cắp tài sản: Khoảng 13 giờ ngày 03/8/2024 tại thôn H, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Lý Văn T đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe Star, biển kiểm soát 22B1-907.89, màu sơn đen, trị giá 14.096.500đ (Mười bốn triệu không trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng) của anh Trương Minh Q. [1.2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Hồi 09 giờ ngày 04/8/2024, Lý Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,296g (không phẩy hai chín sáu gam) Heroine, tại nhà ở của T, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger