Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 135/2024/HSST

Ngày 05/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ninh Văn Trung;
  2. Ông Lãnh Văn Việt.

- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/HSST-QĐ ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:

Vũ Đình T, sinh năm 2004; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông: Vũ Đình Ứ (đã chết); con bà: Nguyễn Thị S; Vợ; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 27/6/2024 đến ngày 30/8/2024 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại “có mặt” .

- Bị hại: Bà Lê Thị N (đã chết).

* Đại diện hợp pháp cho bị hại:

Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1961.

Anh Phạm Văn T2, sinh năm 1983.

Chị Phạm Thị H, sinh năm 1985.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của ông T1, anh T2, chị H: Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang “vắng mặt”.

- Bị hại: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1959 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn L, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đoàn Thị T3, sinh năm 1991 “vắng mặt”.
  2. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1990 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh Đ.

Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà C, số D, đường T, quận Đ, thành phố Hà Nội “vắng mặt”.

  1. Công ty cổ phần G “vắng mặt”.

Địa chỉ: Số H P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình T, sinh năm 2004, trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định là người đã có Giấy phép lái xe hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/4/2024 và là lái xe của Công ty cổ phần G, địa chỉ: Số H, đường P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Khoảng 02 giờ sáng ngày 27/6/2024, Vũ Đình T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, loại xe tải thùng kín, màu sơn Trắng, biển số 29H-281.91của Công ty cổ phần G đi từ Hà Nội đếnBưu cục T5, địa chỉ tại thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao hàng. Khoảng 05 giờ 53 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi trên Quốc lộ C, hướng thị trấn C đi xã T, khi đi đến Km50+950, thuộc thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang do T ngủ gật nên xe ô tô do T điều khiển mất lái,lao sang lề đường bên trái theo chiều đi và lao về phía bà Lê Thị N, sinh năm 1963; bà Lý Thị H2, sinh năm 1971, cùng trú tại thôn M, xã P, huyện L và bà Phạm Thị D, sinh năm 1959, trú tại thôn L, xã G, huyện L đang đi bộ ở lề đường bên trái, hướng thị trấn C đi xã B. Lúc này bà H2 vừa quay đầu lại phát hiện thấy xe ô tô của T đang lao đến từ phía sau nên bà H2 đã tránh kịp. Còn bà N và bà D không tránh được nênđã bị xe ô tô do T điều khiểnva chạm vào người từ phía sau, làm bà N và bà D ngã xuống đường, bà N bị xe ô tô chèn đè lên người, tử vong tại chỗ. T điều khiển xe ô tô tiếp tục tiến lên khoảng 20-30 mét rồi dừng lại, xuống xe kiểm tra. Phát hiện thấy bà N đã tử vong, còn bà D bị thương thì T quay lại xe ô tô, điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường, đến bưu cục xã T. Bà D sau đó được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện L.

Hồi 08 giờ 00 phút ngày27/6/2024 Vũ Đình T đến Công an xã B, huyện L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Đồng thời giao nộp 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 và 01 Căn cước công dân đều mang tên Vũ Đình T; 01 Giấy chứng nhận kiểm định; 01 Giấy biên nhận thế chấp xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, loại xe tải thùng kín, màu sơn Trắng, biển số 29H-281.91và 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, loại xe tải thùng kín biển số 29H-281.91. Cùng ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành test nhanh ma túy và kiểm tra nồng độ cồn đối với T, kết quả Trong âm tính với ma túy và không có nồng độ cồn trong hơi thở.

Ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại Km50+950, đường Q, thuộc thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, xác định: Đoạn đường xảy ra va chạm thẳng, phẳng, bề mặt đường trải nhựa áp phan, lòng đường rộng 6,4m. Lấy mép đường bên phải hướng huyện S đi huyện L làm mép chuẩn; cột điện tín hiệu, ký hiệu 382 làm mốc chuẩn, xác định các dấu vết chính như sau: Số (1) là dấu vết vệt lăn lốp bánh xe ô tô trên cây cỏ và lề đất kích thước (41,9x0,3)cm, đầu vết cách mép chuẩn 1,2m, cách mốc chuẩn 7,1m; cuối vết cách mép chuẩn 0,4m, chiều hướng từ huyện L đi huyện S. Số (2) là dấu vết mặt lăn lốp bánh xe kích thước trên diện (15,5x0,15)m, đầu vết cách mép chuẩn 0,6m, cách mốc 16,6m, cuối vết cách mép chuẩn 0,35m, đầu vết cách đầu vết số (1) 10m, chiều hướng từ huyện L đi huyện S. Số (3) và số (5) là chiếc dép nhựa, màu đen và số (4) là đám mảnh nhựa vỡ rơi rải rác tại hiện trường. Số (6) là tổ chức cơ thể người kích thước trên diện (8,8x1,3)m, điểm đầu cách mép chuẩn 1,1m, điểm cuối cách mép chuẩn 1m, điểm đầu cách vị trí số (5) 1m, cách vị trí số (3) 8,1m. Số (7) là tử thi Lê Thị N, trong trạng thái nằm sấp, đỉnh đầu cách mép chuẩn 0,2m, đầu mũi chân phải cách mép chuẩn 0,4m, đầu mũi chân trái cách mép chuẩn 0,6m. Số (8) là dấu vết trượt cát trên lề đường kích thước trên diện (3x0,9)m, đầu vết cách mép chuẩn 0,3m. Thu giữ: 01 (một) chiếc dép nhựa bên trái và 01 (một) chiếc dép nhựa bên phải, đều màu đen.

Ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm tử thi Lê Thị N. Kết quả khám tử thi:Vùng đầu tóc đen, để dài, ướt bám dính nhiều máu tươi, dập, vỡ, biến dạng toàn bộ hộp sọ, vùng đầu có vết dập rách da phức tạp từ vùng thái dương phải sang thái dương trái, lộ tổ chức xương hộp sọ và tổ chức não. Dập rách da tai hai bên. Hai mắt khép, hai nhãn cầu xẹp. Miệng khép không kín. Hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông. Mặt trước vai và mặt sau ngoài cánh cẳng bàn tay phải có nhiều vết sây sát hằn tím da trên diện (54x8)cm. Mặt trước gối phải có vết sây sát da, kích thước (6x5)cm. Mặt trước ngoài đùi gối và cẳng chân trái có diện sây sát da, kích thước (42x8)cm. Mặt trong bàn chân phải có diện sây sát da, kích thước (11x2)cm. Mặt mu bàn chân trái có diện sây sát da, kích thước (20x8)cm. Mặt sau lưng và mông phải có nhiều vết sây sát da bầm tím trên diện (20x22)cm. Mổ tử thi và một phần tử thi: Kiểm tra vùng đầu, qua vết thương rách da thấy dập nát tổ chức dưới da, đầu, xương hộp sọ thành nhiều mảnh, thoát tổ chức não ra bên ngoài gần toàn bộ. Dập nát gãy phức tạp toàn bộ xương hàm mặt và xương cột sống cổ. Gãy phức tạp xương đùi hai bên. Chọc hút bằng bơm kim tiêm thu được mẫu máu tử thi tại bẹn phải.Thu giữ mẫu máu của tử thi để phục vụ công tác giám định.

Cùng ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà Lê Thị N. Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1440 ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Trên cơ thể Lê Thị N có tổn thương chính là vùng đầu mặt và đùi hai bên: Sập vỡ, biến dạng toàn bộ hộp sọ. Vùng đầu có nhiều vết rách da phức tạp từ vùng thái dương phải sang thái dương trái, lộ tổ chức xương hộp sọ và tổ chức não; Dập nát tổ chức dưới da đầu, xương hộp sọ vỡ thành nhiều mảnh, thoát tổ chức não ra bên ngoài dập nát gần toàn bộ. Gãy phức tạp xương hàm mặt và xương cột sống cổ; Gãy kín phức tạp xương đùi hai bên; Nhiều vết hằn, sây sát, rách da, bầm tím rải rác nhiều vùng cơ thể; Kết quả test nhanh HBsAg: Dương tính. Nguyên nhân chết của Lê Thị N do đa chấn thương: Chấn thương, dập nát vùng đầu mặt; gãy xương cột sống cổ và xương đùi hai bên, trên người nhiễm Virut Viêm gan B. Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể Lê Thị N:Các vết rách, sây sát, hằn da, bầm tím được hình thành do tác động của vật tày, có hình dạng, diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên; trong đó tổn thương sập vỡ biến dạng vùng đầu mặt, gãy xương cột sống cổ, gãy kín xương đùi hai bên do vật tày có diện tiếp xúc giới hạn, tác động với lực rất mạnh, trực tiếp dạng chèn đè qua 2 vùng cơ thể tạo nên.”.

Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 19/7/2024 của Trung tâm y tế huyện L xác định bà Phạm Thị D vào viện hồi 06 giờ 46 phút ngày 27/6/2024, ra viện hồi 14 giờ 30 phút ngày 08/7/2024. Tình trạng thương tích khi vào viện: Mặt trước cẳng chân trái có vết thương 10cm, nham nhở, dập nát; Trán có đám nề kích thước (5x5)cm; hông phải có vết sát da; ngón V chân trái có vết sát da chảy máu đã cầm.

Ngày 23/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định mức độ tổn hại (%) sức khỏe và cơ chế hình thành thương tích của bà Phạm Thị D. Tại bản Kết luận giám định số 2487 ngày 29/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B xác định: “Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái kích thước lớn: 3%; Thương tích vết sẹo ngón V bàn chân trái kích thước nhỏ: 1%; Thương tích chạm thương trán không còn dấu vết: 0%; Thương tích vết sẹo hông phải kích thước nhỏ: 1%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Thị D là 05% (năm phần trăm).

Ngày 27/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, loại xe tải thùng kín, màu sơn Trắng, biển số 29H-281.91, ghi nhận các dấu vết như sau: Nắp capo bị chùn cong theo chiều từ trước về sau trên diện (70x30)cm; Mặt ca lăng bị chùn cong gãy trên diện (60x25)cm; Cụm đèn xi nhan phải bị vỡ bật rời; Bên trái ba đờ sốc phía trước bám dính bùn đất và cỏ trên diện (65 x20)cm; Phía dưới gầm xe trục trước bên trái và cụm nhíp ở trục trước bên trái bám dính bùn đất, cỏ dập nát, cỏ khô trên diện (60x80)cm; Phía trong má lốp bánh trước bên trái có vết mài trượt sạch bụi toàn bộ và có 01 (một) vết mài trượt cao su kích thước (13x14)cm; Trên giá kim loại để ắc quy và thanh gầm xe bên trái có bám dính chất nghi tổ chức cơ thể người trên diện (410x100)cm; Mặt sau biển số xe phía sau xe ô tô bám dính chất nghi tổ chức cơ thể người; Lốp dự phòng treo gầm phía sau xe có vết mài trượt cao su theo chiều từ trước ra sau, kích thước (20x5)cm; Toàn bộ má lốp bánh sau bên trái có vết mài trượt sạch bụi chiều từ mặt lăn lốp vào trục bánh xe. Thu giữ mẫu chất nghi là tổ chức cơ thể người tại giá kim loại để ắc quy và thanh gầm bên trái, mặt sau biển số xe ô tô, niêm phong vào phong bì thư dán kín, ký hiệu "CT".

Ngày 01/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định ADN đối với mẫu vật thu giữ niêm phong trong bì thư ký hiệu CT. Tại bản Kết luận giám định số 5007 ngày 31/7/2024 của V Bộ C xác định: “Mẫu nghi mô, tổ chức cơ thể (ký hiệu CT) gửi giám định là mô, tổ chức cơ thể người và là mô, tổ chức cơ thể của tử thi Lê Thị N”.

Ngày 10/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường, trên phương tiện, vị trí va chạm của phương tiện trên mặt đường, tốc độ phương tiện khi xảy ra tai nạn. Tại bản Kết luận giám định số 1761 ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B xác định:

“1. Dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước sơn, in hằn các đường thẳng song song, hướng từ trước ra sau ở biển số trước, ốp kim loại đầu xe và dấu vết vỡ khuyết ốp nhựa tản nhiệt trước của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 (ảnh 5, 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày có bề mặt là vải sợi (như cơ thể người) mặc quần áo tạo nên.

Dấu vết vỡ khuyết ốp nhựa cụm đèn tín hiệu trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 (ảnh 7 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày theo hướng từ trước ra sau tạo nên.

2. Dấu vết mài trượt cao su, bám dính tổ chức mô cơ thể ở mặt lăn và má lốp bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 được hình thành do chèn đè lên cơ thể nạn nhân Lê Thị N tạo nên.

3. Dấu vết mảnh nhựa vỡ trên mặt đường ký hiệu số 4 phù hợp với quá trình va chạm, các chi tiết nhựa trên xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 gãy vỡ, rơi trên mặt đường tạo nên.

4. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 với cơ thể nạn nhân Lê Thị N trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết tổ chức mô cơ thể, kí hiệu số 6, thuộc phần đường bên phải, theo hướng huyện S đi huyệnLục Ngạn.

5. Căn cứ vào chiều hướng dấu vết va chạm trên phương tiện và hiệntrường, xác định tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 chuyển động theo hướng huyện L đi huyện S.

6. Không xác định được tốc độ của ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91 tạithời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.”.

Ngày 06/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của xe ô tô biển số 29H - 281.91 sau tai nạn. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 89 ngày 12/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: xe ô tô biển kiểm soát 29H - 281.91bị hư hỏng tổng thiệt hại là 3.900.000 đồng.

Ngày 27/6/2024 chị Đoàn Thị T3, sinh năm 1991 và chị Hoàng Thị P1, sinh năm 1993, đều trú tại thôn M, xã P, huyện L giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L 02 (hai) đĩa CD lưu trữ hình ảnh trích xuất từ camera an ninh của gia đình các chị ghi lại hình ảnh vụ tai nạn nêu trên. Ngày 02/7/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vũ Đình T quan sát nội dung trong video đã thu giữ, kết quả T xác định chiếc xe ô tô xuất hiện trong video do T điều khiển, do ngủ gật nên đã đi lấn sang làn đường dành cho xe đi ngược chiều, đâm vào bà N và bà D, sau đó T điều khiển xe rời khỏi hiện trường.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông nêu trên do lỗi hỗn hợp. Vũ Đình T4 khiển xe ô tô do ngủ gật đã đi lấn sang làn đường bên trái theo chiều đi; Bà Lê Thị N, bà Phạm Thị D đi bộ không đúng chiều bên phải. Hành vi của T, bà N, bà D đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ dẫn tới xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào bà N và bà D. Hậu quả bà N chết tại chỗ, bà D bị thương tích 05% sức khỏe, xe ô tô bị hư hỏng thiệt hại 3.900.000₫

Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định về quy tắc chung:

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện, thoải thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của người bị hại Lê Thị N là anh Phạm Văn H1, sinh năm 1987, trú tại thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang và bà D đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Công ty Cổ phần G không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hư hỏng của xe ô tô.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.

Bản cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

    Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

    Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 05 giờ 53 phút ngày 27/6/2024 tại Km50+950, đường Q, thuộc thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Vũ Đình T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, loại xe tải thùng kín, màu sơn Trắng, biển số 29H-281.91 đi hướng thị trấn C - T, do ngủ gật nên xe ô tô do T điều khiển mất lái sang bên trái đường theo chiều đi đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ dẫn tới xe mô tô, va chạm với với bà Lê Thị N và bà Phạm Thị D đang đi bộ ở lề đường bên trái. Hậu quả bà N tử vong tại chỗ, bà D bị thương tích 05% sức khỏe, xe ô tô bị hư hỏng, thiệt hại 3.900.000 đồng. Sau khi xảy ra va chạm T điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường. Đến 08 giờ 00 phút cùng ngày, T đến Công an xã B đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Vì vậy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

  3. Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; Việc gây ra tai nạn giao thông do một phần lỗi của bị hại nay bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân xẩy ra tai nạn cũng một phần do lỗi của bị hại; bị cáo hiện nay có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Xét mức hình phạt đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

  5. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, Căn cước công dân đều mang tên Vũ Đình T theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và có quyền kháng cáo theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Trả lại cho bị cáo Vũ Đình T 01 (một) giấy phép lái xe số [...], hạng B2 do Sở giao thông vẫn tải tỉnh Nam Định cấp ngày 16/4/2024 mang tên Vũ Đình T; 01 căn cước công dân số [...], do cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 31/5/2021 mang tên Vũ Đình T.

  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện LN;
  • - UBND xã Trực Nội, huyện Trực Ninh;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 135/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xet xu sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger