Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày 25/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Kim Minh ;
  2. Bà Vũ Thị Lan Hương;

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại Nhà văn hóa xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trọng D; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/5/1973 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trọng D1 (đã chết) và bà Thế Thị T (đã chết); Bị cáo có vợ thứ nhất Phạm Thị L sinh năm 1975 (đã ly hôn); Bị cáo có vợ thứ hai là Đỗ Thị Y sinh năm 1979. Bị cáo có hai con, con lớn 1993, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L . Có mặt tại phiên tòa.

2. Vũ Hồng L1; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/6/1968 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn S, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình T1 (đã chết) và bà Vũ Thị H sinh năm 1933; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N sinh năm 1975 (đã ly hôn). Bị cáo 01 con sinh năm 1995; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 04/06/2024, bị cáo Nguyễn Trọng D một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 24B1 - 863.64 đi từ nhà đến khu vực cầu B thuộc thôn H, xã T, thành phố L gặp một người đàn ông tên “Len” mua được 01 gói ma túy với giá 1.300.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Trọng D cất bọc ma tuý vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về chỗ ở. Sau khi về nhà bị cáo kiểm tra gói ma túy thấy bên trong có chứa 13 gói nilon màu đen chứa ma tuý Heroine. Bị cáo cất giấu số ma túy trên vào một lọ nhựa có lắp vặn (lọ có sẵn trong phòng), rồi cất lọ ma tuý vào ngăn kéo của chiếc ba lô đang đặt trên các thùng sắt kê giáp tường cạnh cửa ra vào.

Khoảng 16 giờ 22 phút ngày 06/06/2024, bị cáo Vũ Hồng L1 sử dụng điện thoại di động có gắn thẻ sim số thuê bao 0354.829.280 gọi cho Nguyễn Trọng D có số thuê bao 0877.858.063 để hỏi mua 200.000 đồng ma túy Heroine và hai bên hẹn nhau mua bán ma tuý tại phố đi bộ, đường A, phường K, thành phố L. Sau đó Vũ Hồng L1 một mình điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 24B1 - 483.19 đi từ nhà đến địa điểm đã hẹn với D, còn D lấy 01 gói ma túy và cất lọ chứa 12 gói ma tuý còn lại vào trong ngăn kéo chiếc ba lô và đi đến điểm hẹn. Khi đến nơi, Nguyễn Trọng D dừng xe ở ven đường A thuộc tổ C, phường K, thành phố L. Vũ Hồng L1 điều khiển xe mô tô đi đến đưa cho D số tiền 200.000 đồng đồng thời nhận 01 gói ma tuý.

Sau khi mua được ma tuý Vũ Hồng L1 cầm gói ma tuý vừa mua được ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Hồi 16 giờ 55 phút cùng ngày, Vũ Hồng L1 đi đến đường M, tổ B, phường L, thành phố L, thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố L kiểm tra, thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Hồi 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Trọng D điều khiển xe mô tô dừng đỗ ở ven đường H, tổ C, phường C, thành phố L, thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố L kiểm tra, Nguyễn Trọng D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tiến hành khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Trọng D tại số nhà A, phố N, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai đã thu giữ 01 lọ nhựa có nắp vặn, bên trong có 12 gói nilon màu đen, bên trong các gói đều là lớp giấy chứa các cục chất bột khô, màu trắng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 06/6/2024 và Tại Kết luận giám định số 237/KL-GĐMT ngày 10/6/2024 của Phòng K công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ ngày 06/6/2024 của Vũ Hồng L1 có khối lượng là: 0,131 gam là heroine.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 06/6/2024 và kết luận giám định số 238/KL-GĐMT ngày 10/6/2024 của Phòng K công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ của Nguyễn Trọng D có khối lượng là: 1,278 gam là heroine.

Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Trọng D về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Vũ Hồng L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng D, Vũ Hồng L1 về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D từ 2 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù; Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Hồng L1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Trọng D, Vũ Hồng L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngày 04/6/2024 bị cáo Nguyễn Trọng D đã có hành vi mua ma túy theo các kết luận giám định thì tổng khối lượng ma túy bị cáo D đã mua là 1,409 gam heroine mục đích về để bán kiếm lời. Ngày 06/6/2024 bị cáo Vũ Hồng L1 đã mua của bị cáo Nguyễn Trọng D 0,131 gam heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Vũ Hồng L1 cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

[3] Về hình phạt:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

[4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo Vũ Hồng L1 có bố đẻ là Vũ Đình T1 được Ban tặng kỷ niệm chương. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Hồng L1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, xét thấy heroin là thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

Đối với 01 xe máy Honda BKS 24B1 - 863.64 thu giữ của bị cáo Nguyễn Trọng D2, bị cao sử dụng xe máy để làm phương tiện đi lại mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của Nguyễn Trọng D và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Vũ Hồng L1, xét thấy các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy, do vậy cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trọng D, xét thấy trong đó có 200.000 đồng là số tiền do bị cáo Nguyễn Trọng D bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước là phù hợp. Số tiền còn lại là 200.000 đồng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 8 thu giữ của bị cáo Nguyễn Trọng D, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[7] Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 24B1 – 483.19 do bị cáo Vũ Hồng L1 điều khiển. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản của con trai Vũ Hồng L1 là Vũ Mạnh T2. Anh Vũ Mạnh T2 không biết và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của Vũ Hồng L1 nên Cơ quan điều tra ra Quyết định trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Vũ Mạnh T2, xét thấy là phù hợp.

Đối với người nam giới tên L2 đã bán ma túy cho bị cáo D ngày 04/6/2024 tại khu vực thôn H, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của bị cáo D thì không có tài liệu nào khác để chứng minh, do vậy không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng L1 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

0,111 gam heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Vũ Hồng L1 ngày 06/6/2024 cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L dán kín lại. Trên mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Vũ Hồng L1 ngày 06/6/2024 tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai”;

1,187 gam heroine còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét Nguyễn Trọng D ngày 06/6/2024 cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L dán kín lại. Trên mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Trọng D ngày 06/6/2024 tại số nhà A phố N, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai";

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Xêri: 359531011306157 gắn thẻ sim (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Trọng D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, số I: 353317099266471 gắn 02 thẻ sim (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Vũ Hồng L1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 24B1-863.64, số khung RLHJA3218EY026055, số máy JA32E-1050632 (đã qua sử dụng, toàn xe bị trầy xước, yếm xe bị nứt).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trọng D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số Imei: 352989095520951 (đã qua sử dụng);

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Trọng D và tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo Nguyễn Trọng D để đảm bảo thi hành án theo giấy nộp tiền ngày 24/9/2024 vào tài khoản của Công an thành phố L số 3949.0.9049863 tại Kho bạc Nhà nước L3.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS thành phố Lào Cai;
  • - Công an TP Lào Cai (2);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Các bị cáo (2);
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; TA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về hình sự (về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng D bán cho Vũ Hồng L 0.131g heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger