Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày 22-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Trúc Hoa

Ông Lã Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố H:

Phạm Doãn T, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Doãn G và bà Trần Thị K; chưa vợ con; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024, chuyển tạm giam ngày 20/6/2024; có mặt.

Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nông Hoàng M - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Đức M1, ông Lê Văn S - Cán bộ Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an quận K, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 14/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phạm Doãn T gọi điện đến số điện thoại 0568.610.xxx để hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Cả hai thống nhất địa điểm mua bán ma túy trong ngõ G đường T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng. Cách thức mua bán ma túy, T sẽ để số tiền 200.000 đồng vào vỏ bao thuốc lá đặt ở nền đường trong ngõ, đồng thời lấy túi nilon chứa ma túy đá trong vỏ bao thuốc. Sau đó, T đi xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 16M4 - 0138 đến địa điểm trên, khi đi vào trong ngõ khoảng 50m thì T thấy ở nền đường có 01 vỏ bao thuốc lá, T nhặt vỏ bao thuốc lên thấy bên trong có 01 túi nilon mép viền màu xanh chứa ma túy đá, T liền cho 200.000 đồng vào vỏ bao thuốc và để lại vị trí cũ, rồi cất giữ túi nilon chứa ma túy trong lòng bàn tay trái. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, T đi xe mô tô ra đến khu vực đầu ngõ thì bị tổ công tác Công an quận K phối hợp cùng Công an phường Q phát hiện kiểm tra. Do hoảng sợ, T làm rơi túi nilon chứa ma túy đá đang cầm ở lòng bàn tay trái xuống nền đường ngay tại vị trí T đang dừng xe. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 túi nilon (kích thước 02x02cm) có mép viền màu xanh, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại Iphone Xs max và 01 xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 16M4 - 0138.

Tại bản Kết luận giám định số 762/KL – KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,35 gam, loại Methamphetamine”.

Xét nghiệm chất ma túy, T dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Doãn T ở tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.

Quá trình điều tra, Phạm Doãn T khai nhận phù hợp nội dung trên. Tiệp cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc, số tiền 200.000 đồng mua ma túy đá là do T lao động mà có, điện thoại Iphone Xs max và xe mô tô Yamaha biển kiểm soát 16M4 - 0138 là tài sản Tiệp mượn của bà Trần Thị K (sinh năm 1959; trú tại tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng) là mẹ của T, bà K không biết việc T sử dụng xe mô tô và điện thoại trên vào việc mua ma túy sử dụng. Đối với người bán ma túy có số điện thoại 0568.610.xxx, T khai được 01 người bạn xã hội (không rõ lai lịch) cho số điện thoại, trước đó T đã liên hệ với người này để mua ma túy một lần nhưng không nhớ thời gian địa điểm. Tiệp không nhận dạng được người bán ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKSKA ngày 11 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Phạm Doãn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:

Bị cáo Phạm Doãn T: 21 - 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ từ ngày tạm giữ. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu huỷ: Số ma tuý còn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 14/6/2024, tại khu vực đầu ngõ G đường T, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Doãn T có hành vi cất giấu trái phép 0,35 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện, bắt giữ quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Bị cáo T có hành vi cất giấu trái phép 0,35 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cá nhân nên bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân không tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Về hình phạt:

[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

- Về vật chứng:

[11] Đối với ma tuý sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về các nội dung khác

Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0568.610.xxx bán ma túy cho T: quá trình điều tra xác định, chủ thuê bao là Hoàng Mạnh T1, sinh năm 1982, số chứng minh nhân dân là [...], cư trú tại huyện P, thành phố Hà Nội. Xác minh tại Công an huyện P: công dân Hoàng Mạnh T1 có lai lịch như trên không cư trú tại địa bàn huyện P, đi đâu làm gì địa phương không nắm được. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Doãn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt: Phạm Doãn T: 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong số 762MT/PC09 bên trong là ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói.
    • (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
  3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Kiến An;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT; HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger