|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày 16 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt và ông Nguyễn Văn Sơn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thanh Lâm, ông Nguyễn Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Thanh T1, (tên gọi khác Tâm L) sinh ngày 06/6/1993 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và bà Sơn Nhựt P; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: có 02 tiền án
- - Tại bản án sơ thẩm số: 124/2020/HSST ngày 10/12/2020, bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 03/6/2021 chấp hành xong hình phạt tù.
- - Tại bản án sơ thẩm số: 84/2022/HSST ngày 19/9/2022, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 16/6/2024 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: có 02 tiền sự
- - Ngày 29/01/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng đến ngày 16/11/2019 chấp hành xong.
- - Ngày 30/6/2020 bị Công an nhân dân phường M, thành phố L quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi “trộm cắp tài sản” và “sử dụng trái phép chất ma túy”, nhưng chưa đóng phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố L (có mặt).
Bị hại: Ông Nguyễn Duy P1, sinh năm 1978; trú tại: Số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1/ Ông Dương Hoàng P2, sinh năm 1988. Trú tại: A khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- 2/ Bà Nguyễn Ngọc Ái K, sinh năm 1992. Trú tại: H, đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 24/4/2024, Võ Thanh T1 đi bộ từ nhà đến khu vực khóm Đ, phường M, thành phố L, thấy nhà anh Nguyễn Duy P1 số 68/2, tổ B, khóm Đ, phường M, thành phố L không người trông giữ, có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11– 64Gb, màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 – 128Gb – 4G, màu xám của anh P1 để trên bàn nhựa phía trong hàng rào sắt khoảng 02 mét, nên T1 dùng khúc cây gỗ kéo cái bàn về phía hàng rào, lấy trộm 02 điện thoại di động của anh P1. Sau đó, T1 mang điện thoại Iphone 11 đến cửa hàng Đ thuộc khóm Đ, phường M bán cho anh Dương Hoàng P2 với giá 1.000.000 đồng. Đến ngày 27/04/2024, T1 tiếp tục đem điện thoại Samsung A14 đến cửa hàng Đ1 thuộc khóm F, phường M bán cho chị Nguyễn Ngọc Ái K với giá 1.500.000 đồng, sau đó chị K bán điện thoại cho khách với giá 1.800.000 đồng. Đến ngày 28/04/2024, T1 đến Công an phường M đầu thú hành vi trộm cắp 02 điện thoại di động của anh P1.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 300.000 đồng do bà Nguyễn Ngọc Ái Kim giao N.
Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 06/05/2024 và 1468/KL-HĐĐGTS ngày 22/08/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố L xác định: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 64Gb trị giá 5.394.000 đồng; 01 sim di động Viettel trị giá 80.000 đồng; 01 sim di động Vinaphone trị giá 80.000 đồng và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S A14-128Gb-4G trị giá 2.514.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.068.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại, người có quyền lợi đến vụ án không có yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 151/CT-VKSLX-HS ngày 25/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Võ Thành T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Võ Thành T2 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thành T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng các Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung quỹ số tiền 300.000 đồng do bà N1 giao nộp.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
- - Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Võ Thành T2 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 24/4/2024, tại khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Võ Thành T2 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 64Gb và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu S với tổng giá trị tài sản là 8.068.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Võ Thành T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, dù đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án về hành vi cùng loại tội, 02 tiền sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 300.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Thành T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Thành T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 28/4/2024).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền mặt vào Kho bạc Nhà nước tỉnh A số 26764228, ngày 10/9/2024 của Công an thành phố L.
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Thành T2 phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bé Thu |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
