Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/9/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Ngọc Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mai Thị Viện

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 88/2024/HNGĐST ngày 30/5/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐ-ST ngày 02/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐ-ST ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Đài Loan.

Tại phiên toà, vắng mặt chị T (có đơn xin xét xử vắng mặt); vắng mặt anh D không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Năm 2012, chị và anh D quen biết nhau do cùng làm chung công ty tại Bình Dương và cùng tìm hiểu được một thời gian thì phát sinh tình cảm. Ngày 10/02/2014, anh chị đến UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05 Quyển số 01/2014 trên tinh thần tự nguyện và được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới theo phong tục của người Việt Nam.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau tại địa chỉ thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Trong 05 năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cho đến năm 2019 thì mới phát sinh mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích. Đến Tháng 7/2019, mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra đỉnh điểm do vợ chồng không cùng tiếng nói chung, không tôn trọng lẫn nhau, xích mích về vấn đề tiền bạc nên hay xảy ra cãi vã nên chị đã quyết định đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để tự chủ về kinh tế và kể từ đó chị và anh D cũng sống ly thân nhau, không còn ở chung với nhau, thi thoảng chị chỉ gọi điện về để hỏi thăm tình hình sức khỏe và học tập của các con.

Không lâu sau cuối năm 2019 anh D cũng xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Tuy nhiên, do chị và anh D không làm chung công ty và chỗ ở của anh D cũng cách chị khá xa nên 02 vợ chồng cũng không ăn ở với nhau. Do khoảng cách địa lý và mâu thuẫn đã có từ trước nên tình cảm vợ chồng càng trở xa cách, nhạt phai. Tháng 9/2023, chị quyết định về Việt Nam để có thời gian nuôi dạy các con còn anh D vẫn tiếp tục ở lại Đài Loan làm việc.

Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do mục đích hôn nhân không đạt được, cách sống của hai bên không hợp nhau. Cuộc sống hôn nhân thường phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nữa.

Nhận thấy, tình cảm của vợ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng. Vây kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét giải quyết cho vợ chồng được xin ly hôn để mỗi bên có cuộc sống riêng cho mình.

Khi chị đề cập đến vấn đề ly hôn ban đầu anh D đồng ý, nhưng khi chị bảo anh D làm đơn ký gửi về cho chị thì anh D đổi ý không phối hợp, không hợp tác và còn nói chị muốn làm gì thì làm cũng như không cung cấp thông tin địa chỉ chố ở của anh D cho chị được biết. Tuy nhiên, chị được biết anh D vẫn thường xuyên liên lạc về với mẹ của anh D là bà Bùi Thị C, Địa chỉ: thôn P, xã C, huyện C, Thanh Hóa; Điện thoại: 0357.623.xxx. Vây, chị kính đề nghị Quý Tòa áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 thông qua thân nhân của bị đơn ở Việt Nam để giải quyết hồ sơ xin ly hôn của tôi theo quy định của pháp luật.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 17/01/2014 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 25/09/2017. Hiện các cháu đang do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.

- Về quyền nuôi con: Hiện tại các cháu Nguyễn Văn H và Nguyễn Gia H1 đều đang ở cùng với chị, nên chị có nguyện vọng muốn tiếp tục được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Văn H và cháu Nguyễn Gia H1 cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác.

- Về trợ cấp cho con: Chị không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về vay nợ: Vợ chồng không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết,

Tại Biên bản làm việc ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, bố mẹ đẻ của anh D là ông Nguyễn Văn G và bà Bùi Thị C trình bày:

Anh Nguyễn văn D là con trai của ông bà, còn chị Bùi Thị T là con dâu. Anh D và chị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa năm 2014. Sau khi kết hôn, anh D và chị T sinh sống cùng nhà chồng tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Anh chị sinh được 02 cháu là Cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 17/01/2014 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 25/09/2017. Đến năm 2017 chị T đi làm ăn tại Đài Loan, năm 2019 anh D cũng sang Đài Loan làm ăn. Năm 2022 chị T về Việt Nam còn anh D vẫn làm ăn tại Đài Loan. Từ khi chị T và anh D đi Đài Loan hoặc kể cả khi chị T ở Việt Nam thì hai cháu H và cháu H1 vẫn ở với vợ chồng ông bà, còn chị T làm ở đâu ông bà không rõ, thỉnh thoảng về đón 02 cháu đi chơi.

Anh D vẫn ở Đài Loan và thỉnh thoảng gọi điện qua mạng Zalo về hỏi thăm sức khỏe ông bà và các cháu nhưng anh D không cho ông bà biết địa chỉ cụ thể của anh D tại Đài Loan. Do vậy ông bà không biết địa chỉ của anh D tại Đài Loan để cung cấp cho Tòa án.

Về hôn nhân: Nay chị T có đơn xin ly hôn anh D, ông bà không có ý kiến gì, quyền ly hôn là của anh D và chị T.

Về con chung: Chị T có nguyện vọng nuôi cả hai cháu H và cháu H1 ông bà cũng thống nhất, nếu chị T đi làm ăn xa không có điều kiện để chăm sóc hai cháu thì chị T nhờ ông bà thì ông bà cũng đồng ý.

Về tài sản chung: Ông bà biết được anh chị không có tài sản chung và công nợ chung.

Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Ông bà sẽ nhận toàn bộ các văn bản trên và sẽ thông báo cho anh D.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn H và cháu Nguyễn Gia H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Nguyên đơn chị Bùi Thị T đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn anh Nguyễn Văn D đăng ký hộ khẩu tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn cư trú ở nước ngoài, căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Cục Q - Bộ C1 có văn bản số 9475/QLXNC-P3 ngày 07/5/2024 trả lời Công văn số 60/CV-TA ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nội dung: anh Nguyễn Văn D, sinh ngày 28/8/1992 đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 04/9/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Về địa chỉ cụ thể của anh D tại Đài Loan, chị T không cung cấp được. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai Thông báo Thụ lý vụ án và tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh D (xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa); đồng thời tiến hành lấy lời khai bố mẹ đẻ của anh D là ông Nguyễn Văn G, bà Bùi Thị C để làm rõ mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh D. Ông G, bà C cho biết anh D vẫn liên lạc với gia đình thường xuyên, nhưng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh D tại Đài Loan, do đó Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vắng mặt bị đơn (theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 về việc “Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ”).

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị T vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết văn bản tố tụng hai lần nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn ngày 10/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian 05 năm đến năm 2019 thì mới phát sinh mâu thuẫn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là xuất phát từ kinh tế dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xích mích. Đến Tháng 7/2019, mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra đỉnh điểm do vợ chồng không cùng tiếng nói chung, không tôn trọng lẫn nhau, xích mích về vấn đề tiền bạc nên hay xảy ra cãi vã nên chị đã quyết định xuất khẩu lao động tại Đài Loan để tự chủ về kinh tế và kể từ đó chị và anh D cũng sống ly thân nhau, không còn ở chung với nhau.

Xét mâu thuẫn đôi bên đã trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị T được ly hôn anh D.

[2.2]. Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn D có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 17/01/2014 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 25/09/2017. Hiện nay anh D đang sinh sống nước ngoài, xét thấy việc giao con cho chị T nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp và anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo yêu cầu của chị T. Sau này anh D có nguyện vọng nuôi con thì anh sẽ yêu cầu bằng một vụ kiện dân sự khác.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét. Anh D không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh D yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; 56; 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị T.
    • - Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
    • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 17/01/2014 và cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 25/09/2017 cho chị Bùi Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Anh D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

    • - Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000334 ngày 27/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Cẩm Long, huyện Cẩm Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 135/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger