Ngày: 08/8/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- ông Võ Thành Nhân
- ông Nguyễn Thành Luân
Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 441/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXX - DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q
Địa chỉ: tầng A, tầng B tòa nhà S, A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V – Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền:
- ông Tạ Công T – cán bộ ngân hàng VIB
- anh Võ Hoàng Đăng D – cán bộ ngân hàng VIB
- anh K' Jac Ly – cán bộ ngân hàng VIB
- anh Nguyễn Ngọc Đ – cán bộ ngân hàng V1
Địa chỉ: Tầng F tòa nhà P, số B U, phường B, quận B, TP ..
Bị đơn: 1. ông Ngô Hoàng S, sinh năm 1954
Địa chỉ: 1 đường G, tổ B, khu phố D, phường P, TP ., TP ..
2. chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1982
Địa chỉ: 310 Nguyễn Tri Phương, phường 7, TP. Mỹ Tho, tình Tiền Giang
Anh Đang có mặt; ông S, chị N vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Ngân hàng TMCP Q và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh Nguyễn Ngọc Đ là người đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (V1) - Quang Trung ký với khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N Hợp đồng tín dụng số 0045/HĐTD1-VIB619/17 ngày 24/02/2017 với nội dung: VIB cho khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N vay số tiền 760,000,000 đồng; Mục đích vay vốn: Thanh toán mua 01 xe ô tô nhân hiêu CHEVROLET CAPTIVA; Thời hạn vay: 84 tháng, từ ngày 24/02/2017 đến ngày 24/02/2024; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8.6%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là Lãi suất cơ sở trong kỳ cộng biên độ 3%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3.99%/năm, phù hợp với các quy định của Pháp luật, Ngân hàng N1 và chính sách của V1 tại từng thời kỳ. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 30, mỗi tháng trả 9,040,000 đồng, tháng cuối trả 9,680,000 đồng; Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 30, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 30/03/2017; Trả phí: Theo quy định của V1 từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
V1 đã giải ngân cho khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0045/KUNN1-VIB619/17 ngày 24/02/2017 với số tiền 760,000,000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Ngày 31/05/2019 khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N có đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Theo đó, V1 đã phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N với hạn mức tín dụng là: 60,000,000 đồng.
Quá trình thực hiên hợp đồng khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N đã vi pham nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 08/08/2024, Khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N đã thanh toán cho V1 số tiền là 783,016,106 đồng (gốc: 506,394,998 đồng, lãi: 276,621,108 đồng).
Tạm tính đến ngày 08/08/2024, khách hàng Ngô Hoàng S và Nguyễn Thị Kim N còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền: 554,750,393 đồng (Bằng chữ: Năm trăm năm mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn ba trăm chín mươi ba đồng), trong đó gồm có: Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 0045/HĐTD1-VIB619/17 là 407,603,873 đồng, Nợ gốc là: 253,605,002 đồng, nợ lãi là: 792,951 đồng, nợ lãi quá hạn là: 153,205,920 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là: 147,146,520 đồng.
Phần yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc ông Ngô Hoàng S và bà Nguyễn Thị Kim N trả ngay Ngân hàng TMCP Q số tiền (tạm tính đến ngày 08/08/2024) là: 554,750,393 đồng (Bằng chữ: Năm trăm năm mươi bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn ba trăm chín mươi ba đồng), trong đó gồm có: Dư nợ theo họp đồng tín dụng số 0045/HĐTD1-VIB619/17 là 407,603,873 đồng, Nợ gốc là: 253,605,002 đồng, nợ lãi là: 792,951 đồng, nợ lãi quá hạn là: 153,205,920 đồng và dư nợ thẻ tín dụng là: 147,146,520 đồng;
Đề nghị Quý Tòa tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/08/2024 cho đến khi ông Ngô Hoàng S và bà Nguyễn Thị Kim N thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập ông S và chị N đến Toà để tham gia phiên họp, phiên hoà giải và phiên tòa nhưng ông S và chị N đều vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của đương sự: ông Ngô Hoàng S và chị Nguyễn Thị Kim N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Ngân hàng yêu cầu ông S và chị N trả số tiền nợ vay nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S và chị N trả tiền nợ đã vay với gốc và tiền lãi. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là “Hợp đồng tín dụng” ngày 24/02/2017 và “Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản” ngày 31/5/2019 do Ngân hàng cung cấp có chữ ký của ông S và chị N. Có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng và ông S và chị N đã xác lập hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng.
- Quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S và chị N tuy nhiên ông S và chị N không đến tham dự phiên tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông S và chị N phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử xác định ông S và chị N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc tính đến ngày 08/8/2024 theo hợp đồng tín dụng 0045/HĐTD1-VIB619/17 là 253.605.002 đồng và thẻ tín dụng là 147.146.520 đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Xét thấy ông S và chị N đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc ông S và chị N trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc của hợp đồng tín dụng 0045/HĐTD1-VIB619/17 là 253.605.002 đồng và thẻ tín dụng là 147.146.520 đồng.
- Xét yêu cầu trả tiền lãi: Ngân hàng yêu cầu ông S và chị N trả tiền lãi quá hạn. Ngân hàng yêu cầu ông S và chị N trả tiền lãi là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ thì ông S và chị N vẫn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại “Hợp đồng tín dụng” ngày 24/02/2017 và “Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản” ngày 31/5/2019 trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán.
- Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp máy móc thiết bị/phương tiện vận tải số 0045/HĐTC-VIB619/17 ngày 24/02/2017 do Ngân hàng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Buộc ông Ngô Hoàng S và chị Nguyễn Thị Kim N liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền:
- Theo hợp đồng tín dụng số 0045/HĐTD1-VIB619/17 ngày 24/02/2017:
- - Nợ gốc là 253.605.002 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu sáu trăm lẻ năm nghìn không trăm lẻ hai đồng);
- - Tiền lãi trong hạn là 792.591 đồng (Bảy trăm chín mươi hai nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng);
- - Tiền lãi quá hạn là 153.205.920 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu hai trăm lẻ năm nghìn chín trăm hai mươi đồng).
- Theo hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 31/5/2019 là: 147.146.520 đồng (Một trăm bốn mươi bảy triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi đồng).
- Theo hợp đồng tín dụng số 0045/HĐTD1-VIB619/17 ngày 24/02/2017:
- Kể từ ngày 09/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Ngô Hoàng S và chị Nguyễn Thị Kim N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng nêu trên.
- Về án phí:
Ông Ngô Hoàng S và chị Nguyễn Thị Kim N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 26.190.000 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.363.544 đồng theo biên lai thu tiền số 7417 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |
Bản án số 441/2023/TLST-DS ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 441/2023/TLST-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
