|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2024/HS-ST
Ngày: 20 – 6 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Thiện;
- Bà Trần Kim Thoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 24/2024/HSST-QĐ ngày 14/6/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành N, sinh năm 2001 tại Quảng Nam; Tên gọi khác: T; Nơi cư trú: Tổ D, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: F khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến ngày 14/3/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
2. Tăng Mạnh C, sinh năm 1996 tại Nghệ An; Nơi cư trú: A L, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Mạnh H, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Trương Thị V, sinh năm 1974; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1997 và 01 người con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2024 đến ngày 14/3/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh.
Các bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2
Bị hại: Ngân hàng thương mại cổ phần T2 Chi nhánh B; địa chỉ: B Đại lộ B, Phú Thọ, Thủ Dầu M, Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị Ngọc T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Chung cư N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đinh Công M1, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành Đ, ông Dương Tấn Đ1, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành N và Tăng Mạnh C quen nhau thông qua mạng xã hội do cùng tham gia tư vấn, thực hiện dịch vụ vay tiền tiêu dùng cho người dân khi có nhu cầu. N quen biết với Nguyễn Thành Đ và Dương Tấn Đ1 thông qua mạng xã hội, Đ làm cộng tác viên hỗ trợ tìm khách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng giới thiệu cho N tư vấn, còn Đ1 làm cộng tác viên hỗ trợ tìm khách hàng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng giới thiệu cho C tư vấn. Khi hồ sơ vay vốn được ngân hàng giải ngân thì khách hàng sẽ trả tiền công cho C và N, sau đó C và N sẽ trả tiền hoa hồng cho Đ và Đ1 mỗi người từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/01 bộ hồ sơ.
Lợi dụng công việc tư vấn vay tiền tiêu dùng trên, vào khoảng đầu tháng 11/2022, N biết được thông tin Công ty cổ phần B1 đang có chương trình mở ví “Fox pay” liên kết với hệ thống ngân hàng “T3” cho khách hàng cá nhân vay tiền để mua tivi trả góp nên N nói cho C biết và cả hai cùng rủ nhau sẽ tìm kiếm khách hàng có nhu cầu vay tiền tiêu dùng, rồi sử dụng thông tin cá nhân của họ để mở tài khoản đăng ký vay tiền, sau đó sẽ thông báo với khách hàng là hợp đồng vay tiền của họ không được ngân hàng giải ngân nhưng trên thực tế hợp đồng đã được ngân hàng duyệt giải ngân tiền. C và N sẽ chuyển hợp đồng vay tiền của khách hàng sang loại hợp đồng mua tivi trả góp rồi mang đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Vào khoảng cuối tháng 11/2022, ông Đinh Công M1 thông qua facebook liên hệ với N để làm thủ tục vay tiêu dùng số tiền 20.000.000 đồng tại Ngân hàng thương mại cổ phần T2 Chi nhánh B (viết tắt TP -). M1 đồng ý gặp N tại quán C2 tại địa chỉ 1 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương để lấy thông tin cá nhân để làm hồ sơ vay. N thông báo cho C biết đã tìm được người có nhu cầu vay vốn tiêu dùng để cả hai cùng thực hiện hành vi sử dụng thông tin của M1 để làm hợp đồng vay mua tivi trả góp thì C đồng ý. Thực hiện ý định, C gửi G cho N 01 thùng đựng tivi SamSung lại 51 inch (thùng rỗng bên trong không có tivi) và 01 sim điện thoại rác mạng Mobifone để sử dụng khi đăng ký hợp đồng vay tiền cho M1.
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 29/11/2022, ông M1 đến quán C2 gặp N, Đ và người tên M2 (không rõ nhân thân, địa chỉ là bạn của N). Lúc này, N tư vấn đăng ký hồ sơ vay tiền tại ngân hàng T3 thông qua hình thức lập hồ sơ vay online và yêu cầu M1 cung cấp Căn cước công dân của M1 để N sử dụng điện thoại Iphone 14 chụp hình ảnh căn cước công dân của M1, mở tài khoản vay và yêu cầu M1 quét nhận dạng khuôn mặt để hoàn tất thủ tục mở tài khoản tại ngân hàng thì M1 đồng ý. Lúc này, N nhờ M2 đưa điện thoại Nokia 1208 đã có sẵn sim số Nhân gắn từ trước cho Đ, Đ kiểm
3
tra số điện thoại rồi tạo tài khoản online cho M1, sau khi tạo tài khoản xong thì Đ đưa lại điện thoại Nokia 1208 và chụp màn hình thông tin tài khoản gửi cho N rồi Đ đi uống cà phê. Khi nhận được thông tin tài khoản thì N đưa ông M1 ra phía sau quán cà phê nói ông M1 đứng bên cạnh thùng đựng tivi SamSung lại 51 inch (thùng rỗng bên trong không có tivi) để N chụp hình lại.
Khi thực hiện thu thập thông tin mở tài khoản cho vay tiền tại ngân hàng X, N chuyển thông tin của M1 qua tin nhắn Facebook cho Đ1, do Đ1 là cộng tác viên của C và cho C dùng chung Facebook nên khi thấy nội dung tin nhắn N gửi qua, C dùng thông tin cá nhân của M1 mua gói cước “FPT play” để được tham gia mua trả góp tivi và hoàn thiện mở ví “Fox pay”. Thông qua ví “Fox pay” với thông tin cá nhân của Đinh Công M1, C đăng ký vay gói mua trả góp tivi nhãn hiệu Samsung với khoản vay là 20.900.000 đồng. Tiếp đó, ví “Fox pay” gửi cho C mã QR kèm thông tin mã hợp đồng SGAAX4427, tên khách hàng là Đinh Công M1. C gửi mã QR này cho N để Nhân điền thông tin còn lại cho ngân hàng giải ngân. Sau khi thực hiện xong hồ sơ vay, N thông báo với M1 đến ngày 30/11/2022 sẽ báo kết quả cho M1 biết hồ sơ có được duyệt cho vay hay không. Đến ngày 30/11/2022, N nói dối thông báo với M1 là ngân hàng không giải ngân (không cho vay), nhưng trên thực tế ngân hàng đã duyệt hồ sơ và giải ngân cho hợp đồng của M1. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/11/2022, C nhận được thông báo đến địa điểm 79/5/3 B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận sản phẩm vay là 01 tivi S, C ký họ tên là Đinh Công M1 để xác nhận, nhằm không bị nhân viên giao hàng phát hiện. Sau khi nhận được chiếc tivi S1 trên, C đăng thông tin cần bán lên trang Facebook “Thanh lý tivi cũ” để tìm người mua và đã bán được cho một người (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá 11.000.000 đồng và chia lại cho N 5.000.000 đồng.
Đến ngày 28/12/2022, ông Đinh Công M1 thông qua người bạn làm ngân hàng, nhờ kiểm tra thông tin cá nhân trên hệ thống thì biết được đang có khoản vay tiêu dùng tại ngân hàng “T3” vào ngày 29/11/2022 để mua tivi, số tiền vay là 20.900.000 đồng nên nghi ngờ N là người thực hiện chiếm đoạt tài sản trên. Ngày 04/01/2024, M1 nhờ bạn tên Nguyễn Thị Ngọc C1 đóng giả làm người có nhu cầu vay tiền liên hệ hẹn gặp được N tại quán C3 phường P, thành phố T. Ông M1 trình báo Công an phường P đến giải quyết theo quy định, Công an phường P, thành phố T chuyển nội dung kèm theo đối tượng, tang vật đến Công an phường A, thành phố T lập hồ sơ chuyển Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, dung lượng 128GB;
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 6, vỏ màu vàng;
- - 01 (một) điện thoại di động N1, vỏ màu đen;
- - 01 (một) điện thoại di động OPPO A39, model CPH1605;
- - 01 (một) điện thoại di động Nokia (loại 1280), model TA-1174;
- - 01 (một) túi da màu đen, không rõ nhãn hiệu;
- - Tiền Việt Nam: số tiền 5.000.000 đồng.
4
Tại Cáo trạng số 301/CT-VKS-TA ngày20/10/2023 và Công văn số 15/CV-VKS-TA ngày 15/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thành N, Tăng Mạnh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng;
Xử phạt bị cáo Tăng Mạnh C mức hình phạt từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng
+ Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 20.900.000 đồng các bị cáo chiếm đoạt của Ngân hàng thương mại cổ phần T2 Chi nhánh B, các bị cáo đã thanh toán cho Ngân hàng T3, Ngân hàng không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
+ Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động OPPO A39, model CPH1605, 01 điện thoại di động Nokia (loại 1280), model TA-1174 là phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thành N và bị cáo Tăng Mạnh C;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành N 01 điện thoại di động Iphone 6, vỏ màu vàng, 01 điện thoại di động Nokia, vỏ màu đen, 01 túi da màu đen, không rõ nhãn hiệu là tài sản của bị cáo N không sử dụng vào việc phạm tội.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Thành N.
- Các bị cáo Nguyễn Thành N, Tăng Mạnh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các bị cáo Nguyễn Thành N, Tăng Mạnh C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 04/6/2024. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của các bị cáo, việc vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử phù hợp với điểm c, d khoản 2 Điều 290
5
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt các bị cáo.
[2] Trong các giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, Truy tố các bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Thành N, Tăng Mạnh C đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã công bố truy tố bị cáo tại phiên tòa. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại, người làm chứng tại cơ quan điều tra và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/11/2022, tại quán C2 tại địa chỉ 1 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Thành N và Tăng Mạnh C đã có hành vi sử dụng thông tin cá nhân của ông Đinh Công M1 để mở tài khoản đăng ký vay tiền, rồi đưa ra thông tin gian dối để chuyển hợp đồng vay tiền sang loại hợp đồng mua tivi trả góp, nhằm chiếm đoạt số tiền 20.900.000 đồng của Ngân hàng thương mại cổ phần T2 Chi nhánh B. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự phân công, bàn bạc cụ thể, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo N có bà nội là liệt sĩ, bị cáo C có bà nội là thương binh là những người có công cách mạng nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên việc không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, do đó áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
6
[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện thanh toán toàn bộ khoản vay cho ông Đinh Công M1 theo Giấy xác nhận tất toán của Ngân hàng “T3” chi nhánh B đề ngày 28/3/2024 và bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, dung lượng 128GB là phương tiện bị cáo Nguyễn Thành N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A39, model CPH1605, 01 điện thoại di động Nokia (loại 1280), model TA-1174 là phương tiện bị can Tăng Mạnh C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đồng thu lợi bất chính do thực hiện hành vi tội phạm mà có của bị cáo Nguyễn Thành N.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành N 01 điện thoại di động Iphone 6, vỏ màu vàng, 01 điện thoại di động Nokia, vỏ màu đen, 01 túi da màu đen, không rõ nhãn hiệu.
[10] Đối với Nguyễn Thành Đ, Dương Tấn Đ1, người tên M2 (không rõ nhân thân, địa chỉ) quá trình điều tra xác định Đ, Đ1 không biết bị cáo N và C sử dụng thông tin của khách hàng để tự ý chuyển đổi hợp đồng vay mua tivi trả góp và Đ, Đ1 không được hưởng lợi ích gì. N và C cũng không nói mục đích chiếm đoạt tài sản cho Đ, Đ1 biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ. Đối với người tên M2 do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[11] Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[12] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 48; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- - Các Điều 106, 136, 290 và 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- - Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
1. Về trách nhiệm hình sự:
7
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành N và Tăng Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 20/6/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thành N cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Tăng Mạnh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án là ngày 20/6/2024.
Giao bị cáo Tăng Mạnh C cho Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax, vỏ màu tím, số IMEI 351446980643878, dung lượng 128GB; 01 điện thoại di động OPPO A39, model CPH1605, Version CPH1605EX-11-A20-200323; 01 điện thoại di động Nokia (loại 1280), model TA-1174, Code 23KIG74VN00; số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thành N 01 điện thoại di động Iphone 6, vỏ màu vàng, số IMEI 356144094923626; 01 điện thoại di động N1, vỏ màu đen, IMEI 357705109551047, pin phù; 01 túi da màu đen, không rõ nhãn hiệu.
(Theo Ủy nhiệm chi và biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13 tháng 10 năm 2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Thành N và Tăng Mạnh C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. /.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thanh Thủy |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
