Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HSST

Ngày: 19-09-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
    • 2. Ông Hoàng Xuân Tỵ
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2024/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, tên gọi khác: không, sinh năm 1999 tại: Vĩnh Long; nơi thường trú: Tổ A, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long và nơi cư trú: số nhà A đường N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; nơi cư trú: số nhà A đường N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1981, nơi cư trú: Australia; vợ, con: chưa có.

  • - Tiền án: Không.
  • - Tiền sự:
    • + Ngày 19/10/2023, Nguyễn Văn H bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 2.500.000 đồng. hiện chưa nộp phạt.
    • + Ngày 22/11/2023, Nguyễn Văn H bị Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền là 2.500.000 đồng, hiện chưa nộp phạt.
  • - Nhân thân: Ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn H bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra thì bị cáo bỏ trốn nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã ra quyết định truy nã đối với bị cáo.

Bị cáo bị tạm giữ và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 26/5/2024 cho đến nay (có mặt).

  • - Bị hại:
  • Ông Võ Quang M, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)

    Bà Trần Thị L, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số A đường N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Trương Lệ Y, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số A đường N, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 27/11/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số 51P7 – 0255 đến nhà ông Võ Quang M, sinh năm 1976 tại địa chỉ: số B, đường T, phường L, thành phố B để xin tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến nơi H thấy ông M đang ngủ ở trong phòng thì H đi qua phòng khách và phát hiện 01 chiếc laptop màu vàng đồng để trong túi vải màu xanh nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc laptop này để sử dụng. Thực hiện ý định trên, H lấy chiếc laptop cất giấu vào trong áo của H đang mặc rồi điều khiển xe về nhà nghỉ P, địa chỉ: 2, đường T, phường L, thành phố B (đây là nơi H thuê để sinh sống) để chở Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 2004, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (là người sống chung như vợ chồng với H) đi ăn. Trên đường đi, C nhìn thấy chiếc laptop do H trộm cắp được nên hỏi H về nguồn gốc thì H nói với C là “của chú M”, nghe vậy thì C cũng không hỏi gì thêm. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô mang theo chiếc laptop trộm cắp được và chở C đến nhà anh Lê Thanh T1, sinh năm 1987, nơi cư trú: số A, đường N, phường B, thành phố B để nhờ sạc pin.

Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 29/11/2023, H điều khiển xe chở C đến nhà anh T1 để lấy chiếc laptop, khi đến nơi thì C đứng ở ngoài vỉa hè trông xe còn H vào nhà anh T1 gọi nhưng không thấy ai ở nhà. Lúc này H đi qua nhà bà Trần Thị L, sinh năm 1961 tại địa chỉ: số A, đường N, phường B, thành phố B thì phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A13 màu xám của bà L đang để trên bàn trong phòng bếp. Quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định trên, H đi vào trong phòng bếp lấy chiếc điện thoại trên rồi cất giấu vào trong túi quần mà H đang mặc, sau đó H điều khiển xe mô tô chở C về nhà nghỉ P. Trên đường đi, C nhìn thấy điện thoại của H trộm cắp của bà L thì hỏi “ở đâu vậy”, H trả lời “hỏi làm gì, lấy trong hẻm”, nghe vậy thì C không hỏi gì thêm. Sau đó, H chở C đến tiệm cầm đồ “Bảo Ngân” tại địa chỉ: số B, đường L, phường A, thành phố B để cầm cố chiếc điện thoại trên cho bà Trương Lệ Y, sinh năm 1962 (là chủ tiệm cầm đồ) được số tiền 800.000 đồng. Toàn bộ số tiền này H sử dụng để tiêu xài cá nhân hết mà không chia lại cho C. Đến sáng ngày 30/11/2023, H điều khiển xe đến nhà anh T1 để lấy chiếc laptop thì bị người dân phát hiện giữ lại và trình báo Cơ quan Công an (BL 173-193). Sau đó H đã bỏ trốn đến ngày 26/5/2024 H đến Công an thành phố B để đầu thú.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: Giá trị chiếc laptop nhãn hiệu HP, màu vàng đồng, số model 15-BS647TU là 5.700.000 đồng. Giá trị điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13, màu xám, số seerri R58T349FJWK là 2.800.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại 01 chiếc laptop nhãn hiệu HP và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13 cho ông Võ Quang M và bà Trần Thị L là những chủ sở hữu hợp pháp.

Hiện đang tạm giữ 01 xe mô tô biển số 51P7 – 0255, quá trình điều tra H khai nhận xe này H trộm cắp tại địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên Cơ quan điều tra đã thông báo cho Cơ quan điều tra huyện T biết để tiếp nhận và xử lý theo thẩm quyền.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Võ Quang M và bà Trần Thị L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị cáo đã nộp 800.000 (tám trăm nghìn đồng) để bồi thường cho bà Trương Lệ Y.

Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKSBL ngày 01 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông M, bà L với hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố B; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Vào ngày 27/11/2023 tại phường L, thành phố B bị cáo Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 máy tính laptop của ông Võ Quang M giá trị 5.700.000 đồng và ngày 29/11/2023, tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng bị cáo đã chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 của bà Trần Thị L giá trị 2.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt là 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng) là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đối chiếu lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật

[3] Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn sau đó ra đầu thú nên áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tính chất hành vi do bị cáo H thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật, hành vi trên không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương; nên cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo có nhân thân xấu, xét cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5]Về xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố B đã thu hồi và trả lại 01 chiếc laptop nhãn hiệu HP và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A13 cho ông Võ Quang M và bà Trần Thị L là những chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Dream, màu xanh, biển kiểm soát 51P7 – 0255, số máy 1P50FMG-3 *10200958*, không có số khung, tình trạng đã qua sử dụng, quá trình điều tra H khai nhận xe này H trộm cắp tại địa bàn huyện T, tỉnh Vĩnh Long nên Cơ quan điều tra Công an thành phố B đã thông báo cho Cơ quan điều tra huyện T biết để tiếp nhận và xử lý theo thẩm quyền nên tiếp tục giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B xử lý theo quy định pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Lệ Y yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 800.000đ, gia đình bị cáo đã nộp số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) để bồi thường cho bà Y.

[7] Đối với chị Nguyễn Thị Kim C không tham gia bàn bạc, không biết việc bị cáo H trộm cắp tài sản; không trực tiếp tham gia cầm cố điện thoại di động do bị cáo H trộm cắp của bà L nên không xem xét trách nhiệm của chị C.

Đối với anh Lê Thanh T1 được H nhờ xạc pin máy tính laptop do H trộm cắp của ông Võ Quang M, do T1 không biết rõ nguồn gốc tài sản này là do bị cáo H trộm cắp nên không xem xét trách nhiệm của anh T1.

Đối với bà Trương Lệ Y, là người nhận cầm cố điện thoại do bị cáo H trộm cắp, do bà Y không biết rõ nguồn gốc tài sản này do bị cáo H trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Trương Lệ Y.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B (một) xe mô tô, nhãn hiệu Dream, màu xanh, biển kiểm soát 51P7 – 0255, số máy 1P50FMG-3 *10200958*, không có số khung, tình trạng đã qua sử dụng để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.

Trả cho bà Trương Lệ Y số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận ngày 02/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc và biên lai thu tiền số 0002408 ngày 18/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKS nhân dân thành phố Bảo Lộc;
  • - Công an thành phố Bảo Lộc;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục T.H.A thành phố Bảo Lộc;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Qui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 135/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pham Van H Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger