|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 135/2024/DS-ST Ngày: 19 – 7 – 2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi và vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hoàng Bảy;
- Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hiến-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Hậu-Kiểm Sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2024/TLST-DS, ngày 11 tháng 6 năm 2024, về tranh chấp Hợp đồng góp hụi và vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐXXST-DS, ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2024/QĐST-DS, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị P, sinh năm 1985
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1968 và ông Trương Văn M, sinh năm 1967
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Văn L, sinh năm 1992
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo Đơn khởi kiện ngày 11/3/2024, Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 08/7/2024, Tờ Tường trình ngày 14/6/2024 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án.
-Nguyên đơn bà Hồ Thị P trình bày:
Nguyên bà có tham gia các dây hụi, do bà Huỳnh Thị Kim H và ông Trương Văn M làm chủ hụi, trong quá trình tham gia hụi, bà đã đóng hụi sống đầy đủ, nhưng đến nay họ không giao tiền hụi cho bà, cụ thể như sau:
- Dây 01: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 02/8/2020 âm lịch, có 20 phần, bà tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Lành”, do bà đi làm trên Thành phố Hồ Chí Minh, nên có gửi tiền về cho ông L đóng hụi giùm, bà đóng hụi sống được 15 lần, tính hụi có lãi thì được số tiền: 2.000.000 đồng x 15 lần x 02 phần = 60.000.000 đồng; sau khi trừ đầu thảo và tiền hụi chết 10.000.000 đồng, thì trong dây hụi này, bà H còn thiếu bà 50.000.000 đồng. Nhưng bà H ngưng hụi và cũng không giao tiền bà, vì vậy bà yêu cầu bà H và ông M có trách nhiệm liên đới trả lại 50.000.000 đồng.
- Dây 02: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 06/4/2020 âm lịch, có 19 phần, bà tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Lành”, do bà đi làm trên Thành phố Hồ Chí Minh, nên có gửi tiền về cho ông L đóng hụi giùm, bà đóng hụi sống được 06 lần, đến lần thứ 07 thì bà H úp hụi, nên có đề nghị hụi viên chỉ được nhận số tiền gốc 9.000.000 đồng, đã góp vào. Nhưng đến nay, bà H chưa giao được số tiền nào cho bà, vì vậy, bà yêu cầu bà H và ông M có trách nhiệm liên đới trả 9.000.000 đồng.
Tổng cộng 02 dây hụi nêu trên, bà H và ông M còn nợ 50.000.000 đồng + 9.000.000 đồng = 59.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà H và ông M còn mượn tiền bà nhiều lần, cụ thể như sau:
- Ngày 03/3/2020 âm lịch, mượn 74.000.000 đồng.
- Ngày 05/4/2020 âm lịch, mượn 20.000.000 đồng.
- Ngày 23/8/2020 âm lịch, mượn 40.000.000 đồng.
- Ngày 02/12/2020 âm lịch, mượn 20.000.000 đồng.
- Ngày 28/12/2020 âm lịch, mượn 50.000.000 đồng.
Tổng cộng bà cho bà H và ông M mượn là: 74.000.000 đồng + 20.000.000 đồng + 40.000.000 đồng + 20.000.000 đồng + 50.000.000 đồng = 204.000.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu đồng).
Tổng cộng tiền hụi và tiền mượn bà H và ông M còn thiếu là: 59.000.000 đồng + 204.000.000 đồng = 263.000.000 đồng.
Bà có nộp đơn yêu cầu hòa giải gửi đến Tổ Hòa giải Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng để giải quyết sự việc. Vào ngày 02/12/2022, tại trụ sở Ban N, xã T, thì bà Huỳnh Thị Kim H có thừa nhận còn thiếu bà số tiền trên và cam kết sẽ trả dần mỗi tháng 4.000.000 đồng, cho đến khi hết nợ, và bà cũng đồng ý, tuy nhiên, từ ngày 29/12/2022 cho đến ngày 29/10/2023, bà H đã không thực hiện đúng cam kết. Chỉ có 04 tháng đầu, từ ngày 29/12/2022 đến ngày 29/3/2023, bà H trả cho bà đầy đủ 4.000.000 đồng/tháng, tổng cộng được 16.000.000 đồng. Nhưng sau đó, bà H chỉ trả cho bà mỗi tháng 3.000.000 đồng; từ ngày ngày 29/4/2023 đến ngày 29/9/2023; là 06 tháng tổng cộng được 18.000.000 đồng. Đến ngày 29/10/2023, bà H chỉ trả cho bà 1.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền mà bà H đã trả cho bà được là: 16.000.000đồng + 18.000.000 đồng + 1.000.000 đồng = 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
Và kể từ ngày 29/10/2023 đến nay, bà H không trả cho bà lần nào, khi bà đến nhà đòi tiền, bà H chỉ hứa hẹn, mà không trả. Số tiền bà H còn bà là: 263.000.000 đồng - 35.000.000 đồng = 228.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tám triệu đồng).
Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách giải quyết: Buộc bà Huỳnh Thị Kim H và ông Trương Văn M có trách nhiệm liên đới trả tổng số tiền còn nợ 228.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi tám triệu đồng). Bà không yêu cầu tính lãi.
*Bị đơn bà Huỳnh Thị Kim H trình bày:
Nguyên vào đầu năm 2020, bà có làm đầu thảo hụi, ông Hồ Văn L có tham gia chơi hụi với bà, bà có hỏi mượn tiền ông L, chứ không phải bà Hồ Thị P. Các dây hụi ông L chơi cụ thể như sau:
Dây 01: Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 02/8/2020 âm lịch, có 20 phần, ông L tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Lành”. Ông L đóng hụi được 15 lần, tính hụi có lãi ông L đóng được 60.000.000 đồng, sau khi trừ hụi chết đến mãn hụi là 20.000.000 đồng, thì dây hụi này bà còn thiếu ông L số tiền: 60.000.000 đồng - 20.000.000 đồng = 40.000.000 đồng.
Tuy nhiên, dây hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 06/4/2020 âm lịch, có 24 phần, ông L đã hốt hụi nhưng không đóng hụi chết cho bà, cụ thể như sau:
Hụi tháng 2.000.000 đồng, mở ngày 06/4/2020 âm lịch, có 24 phần, ông L tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi ghi “Lành". Ông L đóng hụi được 02 lần, đến lần thứ 03 thì hốt hụi, ra lời 410.000 đồng, ông L hốt được số tiền đãt rừ đầu thảo là 36.390.000 đồng, bà đã giao tiền hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt hụi, ông L không có đóng hụi chết cho bà, số tiền hụi chết ông L còn thiếu là: 01 phần x 2.000.000 đồng x 21 lần = 42.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà có hỏi vay tiền của ông L nhiều lần, với tổng số tiền là 204.000.000 đồng (Hai trăm lẻ bốn triệu đồng).
Tại buổi hòa giải tại Trụ sở Ban N, bà có thừa nhận thiếu tổng số tiền là:
59.000.000 đồng + 204.000.000 đồng = 263.000.000 đồng. Ban hòa giải yêu cầu trả dần mỗi tháng số tiền vay 5.000.000 đồng/tháng và tiền hụi trả 4.000.000 đồng/tháng.
Và bà có đưa cho chị dâu của ông L, do ông L đi làm ở thành phố, nhiều lần, cụ thể như sau:
- Ngày 20/05/2022, bà có trả cho ông L số tiền: 25.400.000 đồng.
- Từ ngày 29/05/2022 đến ngày 29/10/2022, hàng tháng bà có trả cho ông L 5.000.000 đồng.
- Ngày 29/12/2022, bà có trả cho ông L số tiền: 35.000.000 đồng, do bà có bán vú sữa đợt này.
- Từ ngày 29/01/2023 đến ngày 29/12/2023, hàng tháng bà có trả cho ông L số tiền: 5.000.000 đồng.
- Ngày 29/01/2024, bà có trả cho ông L số tiền: 6.000.000 đồng.
- Ngày 29/02/2024, bà có trả cho ông L số tiền: 5.000.000 đồng.
Tổng cộng bà đã trả cho ông L số tiền vay là: 161.400.000 đồng, số tiền vay bà còn thiếu lại ông L 204.000.000 đồng - 161.400.000 = 42.600.000 đồng.
Ngoài ra, bà có trả tiền hụi còn thiếu cho ông L và bà có đưa cho chị dâu của ông L, do ông L đi làm ở thành phố, nhiều lần, cụ thể như sau:
- Từ ngày 29/12/2022 đến ngày 29/02/2024, hàng tháng bà có trả cho ông L số tiền: 4.000.000 đồng. Tổng cộng bà đã trả cho ông L số tiền nợ hụi là: 60.000.000 đồng. Cho nên, số tiền hụi ông L khởi kiện yêu cầu bà trả 59.000.000 đồng là hoàn toàn sai sự thật, bà chỉ còn thiếu ông L 40.000.000 đồng, nhưng ông L còn thiếu lại 20.000.000 đồng, do bà trả dư và tiền dây hụi mở ngày 06/4/2020 ông L còn thiếu 42.000.000 đồng, tổng cộng là: 20.000.000 đồng + 42.000.000 đồng = 62.000.000 đồng (Sáu mươi hai triệu đồng)
Sau khi cấn trừ số tiền bà đã trả cho ông L và số tiền hụi chết ông L còn thiếu, thì số tiền bà đã trả dư cho ông L là: 62.000.000 đồng – 42.600.000 đồng = 19.400.000 đồng (Mười chín triệu bốn trăm nghìn đồng).
Vì vậy bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị P vì bà chỉ thiếu tiền ông L, chứ không thiếu bà P.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Văn L trình bày:
Ông có biết việc chị ông (bà Hồ Thị P) khởi kiện bà Huỳnh Thị Kim H và ông Trương Văn M đòi tổng số tiền 228.000.000 đồng. Ông cũng thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của chị ông là bà Hồ Thị P, vì bà H và ông M không có nợ tiền của ông, mà nợ của tiền hụi và tiền vay của bà P, ông chỉ đứng tên giùm và nộp tiền hụi thay bà P trong giấy hụi mà thôi. Vì thực tế, bà H và ông M đã thừa nhận số tiền này và đã trả dần hàng tháng cho chị ông. Ông cam đoan lời trình bày của mình là sự thật.
*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên cho rằng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, đương sự vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Về tố tụng
[1] Tại phiên tòa, các đương sự ông Trần Văn M1 và ông Hồ Văn L đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; nguyên đơn bà Hồ Thị P vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Xét thấy: Giữa nguyên đơn và bị đơn có thoả thuận và giao kết hợp đồng góp hụi và vay tiền với nhau, theo như lời nguyên đơn đã trình bày, trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3] Căn cứ vào Biên bản hòa giải thành ở cơ sở của Tổ Hòa giải Ấp 1, do các thành viên là ông Bùi Khải H1, ông Huỳnh Văn K, ông Đoàn Văn H2 và ông Lâm Văn T lập ngày 02/12/2022, thể hiện nội dung: Bà Hồ Thị P yêu cầu bà Huỳnh Thị Kim H trả số tiền vay mượn và hụi tổng cộng là 254.000.000 đồng, đã giải quyết một lần tại Trụ sở vào ngày 12/4/2022, đến nay bà H không thực hiện đúng lời hứa trả mỗi tháng năm triệu (trong thời gian đến ngày giải quyết lần hai, đã trả được 14 triệu đồng). Ý kiến bà H: Do bà có phần lỗi và không thực hiện đúng với cháu P, vì kinh tế khó khăn và còn nhiều người thiếu nợ bà chưa trả. Hiện nay, bà hứa có khả năng trả cho cháu P mỗi tháng 4.000.000 đồng. Ý kiến bà P: Bà yêu cầu bà H trả luôn chưng hụi 9.000.000 đồng. Tổng cộng là 263.000.000 đồng. Ý kiến của bà H: Bà đồng ý với số tiền vay mượn và tiền hụi cộng lại 263.000.000 đồng, đã trả trước 14.000.000 đồng, còn lại 249.000.000 và hứa thực hiện trả cho cháu P mỗi tháng 4.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện vào ngày 30.12.2022.
[4] Tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”. Tại khoản 1 Điều 471 của Bộ luật này quy định: “Họ, hụi, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên”.
[5] Bà H cho rằng không có thiếu tiền hụi và tiền mượn của bà P, mà chỉ thiếu ông Hồ Văn L và đã dư số tiền 19.400.000 đồng cho ông L; còn ông L không thừa nhận và cho rằng tiền hụi và tiền mượn là nợ của bà H đối với bà P, chứ không phải nợ của ông. Căn cứ vào Biên bản hòa giải thành ở cơ sở ngày 02.12.2022 nêu trên của Tổ Hòa giải Ấp A, thì lời trình bày của bà Hồ Thị P là có cơ sở, còn lời trình bày của bà H là gian dối và không có căn cứ chấp nhận.
[6] Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 166, 351, 357, 463, 466 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 91, 92 và 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 và khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phúc, buộc các bị đơn Hơn và M1 phải có nghĩa vụ liên đới trả tổng số tiền nợ hụi và nợ vay là 228.000.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Buộc các bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch là 228.000.000 đồng x 5% = 11.400.000 đồng.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, các điều 91, 92, và 93, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 166, 351, 357, 463, 466 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 và khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị P, buộc bà Huỳnh Thị Kim H và ông Trương Văn M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà P tổng số tiền 228.000.000 đồng.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả lãi cho người được thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông M và bà H phải chịu 11.400.000 đồng; Bà P không phải chịu và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.700.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005432, ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vinh Thắng |
Bản án số 135/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Số bản án: 135/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng góp hụi
