Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Huệ và ông Bùi Đăng Triệu.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Quỳnh Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXX-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Trường G; tên gọi khác: không; sinh ngày: 17/5/1992, tại C, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ E, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Đỗ Trọng K; con bà: Nguyễn Thị Ngọc L; vợ, con: không; tiền án: ngày 20/12/2019, bị TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; chấp hành xong Bản án ngày 05/01/2023; tiền sự: không; bị bắt ngày 16/6/2024 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Lê Văn H; sinh năm: 1982; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ E, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Văn T; chị Trần Thị Hồng N; ông Nguyễn Văn A; - đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Trường G và Lê Văn H (sinh năm 1982, nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, Quảng Ninh) có quan hệ quen biết xã hội. Trong hai ngày 14/6 và 16/6/2024, G đã 02 lần bán trái phép chất ma túy cho H, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 14 giờ 30 ngày 14/6/2024, H liên lạc với G bằng điện thoại của mình số 0899.201.xxx hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, G đồng ý. Do G còn nợ H 100.000 đồng trước đó nên H đã chuyển khoản 400.000 đồng (nhờ qua tài khoản Trần Thị Hồng N) vào tài khoản 0842.763.053 ngân hàng MB của G. Sau đó, tại khu vực gần 02 quán bia đường tập đoàn, thuộc tổ A, khu B, phường C, thành phố C, G bọc túi ma túy đá trong giấy vệ sinh để cạnh ống thoát nước của nhà dân ngay cạnh quán bia rồi bảo H đến lấy. H sau khi lấy được ma túy đã sử dụng hết một mình tại bãi đất trống.

Lần 2: Khoảng 15 giờ 38 phút ngày 16/6/2024, H gọi điện cho G hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, G đồng ý. H nhờ anh Nguyễn Văn T chuyển khoản, bị trừ 10.000 đồng nên G nhận được 490.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, G gọi cho H xác nhận và bảo H địa điểm lấy ma túy. G lấy 01 túi ma túy trong hộp giấy màu đỏ trong phòng ngủ của G, rồi để trong túi bóng đặt dưới lề đường sát tường cách cổng nhà G 02 mét thuộc tổ C, khu C, phường C, rồi vào nhà. Sau đó, H đến vị trí trên lấy được ma túy, mang khu vực bãi đất trống ven biển thuộc khu G, phường C, thành phố C, sử dụng xong thì bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ: tại vị trí H ngồi 01 chai nhựa trên nắp có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, một lỗ gắn ống thủy tinh được uốn cong có bầu, trong bầu bám dính chất tinh thể màu trắng dạng vết; 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi nilon kích thước khoảng (2x2,5)cm, bên trong dính chất tinh thể màu trắng dạng vết. Còn thu giữ: 01 điện thoại di động Masstel vỏ màu đen, lắp sim 0899.201.883.

Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở của G. Thu giữ trong phòng ngủ của G: 01 cân tiểu ly màu đen; 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 01 túi nilon kích thước (5x8,8) cm có chứa chất tinh thể màu trắng, khối lượng 1,981gam, 01 đoạn ống hút nhựa dài khoảng 11 cm một đầu cắt vát, 33 vỏ túi nilon kích thước khác nhau; 01 điện thoại di động màu đen không lắp sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh lắp 02 sim 0842.763.053, 0775.020.389.

Kết luận giám định số 923/KL-KTHS, ngày 21/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định: chất dạng vết màu trắng đục trong ống thủy tinh có bầu tròn và chất bột màu trắng dạng vết trong túi nilon thu của Lê Văn H là ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng. Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Đỗ Trường G là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,981 gam (một phẩy chín tám một gam). H1 lại 1,91 gam mẫu giám định; 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn.

Kết luận giám định số 929/KL-KTHS ngày 24/6/2024 kết luận tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Đỗ Trường G và Lê Văn H.

Tại phiên toà, Đỗ Trường G khai nhận: G sử dụng ma túy đá từ năm 2017, G có mua ma túy về chia nhỏ để sử dụng và bán; ngoài hai lần bán ma túy cho H trên còn nhiều lần bán ma túy nhiều người khác nhưng G không nhớ cụ thể, không nhớ khối lượng ma tuý đã bán. Vật chứng thu giữ trong phòng ngủ là ma túy và dụng cụ bán ma túy của G. Nguồn gốc ma túy bán cho H và thu trong phòng ngủ là của G, mua của người đàn ông tên T1 (khoảng 40 tuổi, nhà gần cây xăng C, có số điện thoại 0396.828.xxx) tại khu vực ngã ba sân bóng C với giá 2.750.000 đồng, G mang về cất giấu trong phòng ngủ mục đích chia nhỏ để bán kiếm lời. Số tiền bán ma túy G đã tiêu sài cá nhân hết. Tại phiên toà bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản Cáo trạng số: 2721/CT-VKSCP ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Đỗ Trường G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt Đỗ Trường G mức án từ 8 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Căn cứ: điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu và tiêu huỷ: toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định, ống thuỷ tinh bầu tròn và vỏ bao gói trong niêm phong số 923; 02 sim điện thoại; 01 cân tiểu ly, 01 hộp giấy màu đỏ có chữ jobon, 09 vỏ túi nilon kích thước: (4x4) cm, 09 vỏ túi nilon kích thước: (2x2) cm; 07 vỏ túi nilon kích thước: (2x2,5) cm; 08 vỏ túi nilon kích thước: (3x3) cm; 01 đoạn ống nhựa cắt vát dài khoảng 11 cm; 01 bật lửa, 01 chai nhựa có lắp đục có 02 lỗ có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại (01 điện thoại Sam sung, màu xanh và 01 điện thoại không nhãn hiệu màu đen - đều đã cũ); buộc bị cáo nộp lại 990.000 đồng tiền do mua bán ma tuý mà có nộp vào ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của anh Lê Văn H về thời gian, địa điểm, cách thức mua bán, loại ma tuý; phù hợp với các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản làm việc xác định địa điểm; bản ảnh vật chứng; tại biên bản kiểm tra điện thoại từ hai điện thoại số 0842.763.xxx (của G) và 0899201883 (của H) có các cuộc gọi đi, đến trùng nhau về thời gian, thời lượng cuộc gọi; vỏ túi nilon dính ma tuý thu giữ của H có kích thước (2x2,5) cm phù hợp với kích cỡ của vỏ túi nilon thu giữ của G khi khám xét nơi ở; kết luận giám định số 923/KL-KTHS ngày 21/6/2024 và số 929/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q thể hiện chất ma tuý thu giữ của H và của G tại nơi ở là cùng một loại: Methamphetamine; tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của G và H. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hồng N là những người được H nhờ chuyển tiền mua bán ma tuý trả G qua tài khoản và phù hợp với sao kê tài khoản ngân hàng của họ đến tài khoản ngân hàng của bị cáo; anh T, chị N nhận dạng được H qua ảnh; anh H và bị cáo G cũng nhận dạng được nhau qua ảnh. Với các chứng cứ trên cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 ngày 14/6/2024 tại tổ A, khu B, phường C và khoảng 15 giờ 38 phút ngày 16/6/2024 tại tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Đỗ Trường G 02 lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng/lần cho anh Lê Văn H, ngoài ra, G còn tàng trữ 1,981 gam ma túy; loại Methamphetamine nhằm mục đích bán.

Hành vi của Đỗ Trường G đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây mất ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã từng bị xét xử, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa có tiền sự.

[6] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng.

[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của H: 01 điện thoại di động Masstel vỏ màu đen kèm 01 sim; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý (gồm 01 chai nhựa, 01 lắp đục có 02 lỗ một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng; một lỗ gắn ống thuỷ tinh được uốn cong có bầu trong bám dính chất ma tuý dạng vết (đã được gửi giám định); 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 túi nilon kích thước (2x2,5 cm) dính chất tinh thể trắng dạng vết (đã gửi giám định).

Thu giữ của G: 02 điện thoại (01 điện thoại Sam Sung kèm 02 sim và 01 điện thoại không nhãn hiệu không có sim đều đã cũ); 01 cân tiểu ly, 01 hộp giấy, 09 vỏ túi nilon kích thước: (4x4) cm, 09 vỏ túi nilon kích thước: (2x2) cm; 07 vỏ túi nilon kích thước: (2x2,5) cm; 08 vỏ túi nilon kích thước: (3x3) cm; 01 đoạn ống nhựa cắt vát dài khoảng 11 cm.

Điện thoại di động Masstel vỏ màu đen, lắp sim 0899.201.883 thu giữ của Lê Văn H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho H là có cơ sở.

Số ma tuý hoàn lại sau giám định 1,91 gam là vật cấm lưu hành; ống thuỷ tinh được uốn cong có bầu và vỏ bao gói là vật không còn giá trị sử dụng được niêm phong trong phong bì số 923/KL-KTHS của Phòng K1 công an tỉnh Q nên cần tịch thu và tiêu huỷ; 01 hộp giấy màu đỏ, 02 sim điện thoại; 01 cân tiểu ly; 09 vỏ túi nilon kích thước: (4x4) cm, 09 vỏ túi nilon kích thước: (2x2) cm; 07 vỏ túi nilon kích thước: (2x2,5) cm; 08 vỏ túi nilon kích thước: (3x3) cm; 01 đoạn ống nhựa cắt vát dài khoảng 11 cm; 01 bật lửa; 01 chai nhựa có nắp đục có 02 lỗ, có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

  • - 02 điện thoại thu giữ của G là phương tiện phạm tội cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.
  • - Số tiền thực tế G thu là 990.000 đồng là tiền do phạm tội mà có cần buộc bị cáo phải nộp lại sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người đàn ông tên T1 theo G khai bán ma túy cho G nhưng không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.

Riêng Lê Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.

Còn anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị Hồng N, được H nhờ chuyển khoản, nhưng không biết việc H mua ma túy của G nên không để cập xử lý.

[8] Về án phí: bị cáo G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Đỗ Trường G phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Đỗ Trường G 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 16/6/2024.

Về vật chứng: căn cứ: điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì còn nguyên niêm phong số 923/KL-KTHS của phòng K1 công an tỉnh Q; 02 sim điện thoại; 01 cân tiểu ly, 01 hộp giấy màu đỏ có chữ jobon, 09 vỏ túi nilon kích thước: (4x4) cm, 09 vỏ túi nilon kích thước: (2x2) cm; 07 vỏ túi nilon kích thước: (2x2,5) cm; 08 vỏ túi nilon kích thước: (3x3) cm; 01 đoạn ống nhựa cắt vát dài khoảng 11 cm; 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 chai nhựa có lắp đục có 02 lỗ có 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại (01 điện thoại Sam sung, màu xanh và 01 điện thoại không nhãn hiệu màu đen- đều đã cũ);

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 18/BB-THA ngày 29/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Buộc bị cáo Đỗ Trường G phải nộp lại số tiền 990.000(chín trăm chín mươi nghìn) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc Đỗ Trường G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh QN;
  • - VKSND tỉnh QN ;
  • - VKSND TP.Cẩm Phả;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
  • - Cơ quan THAHS CA TP.Cẩm Phả ;
  • - Nhà tạm giữ công an TP Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dỗ Trường G - mua bán tráp phép chát ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger