Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-PT

Ngày: 14-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông
Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 313/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Lê Hoàng N. Do có kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Hoàng N, sinh năm 1986; giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Lê Văn L và bà Trần Thị N1; Vợ: Đã ly hôn; Con 01 người sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: Ngày 13/3/2023 bị Công an huyện L xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Nộp phạt ngày 15/3/2023; Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng N theo yêu cầu: Luật sư Nguyễn Văn H – Văn phòng L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ (vắng mặt, có gửi luận cứ bào chữa).

- Bị hại:

  1. Nguyễn Ngọc Ẩ, sinh năm 1982 (vắng mặt);
  2. Đặng Thị Mỹ T, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn L, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1976 (vắng mặt);
  2. Anh Nguyễn Thanh M, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Cùng cư trú: ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

Trong vụ án Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 21/3/2023, Bùi Mạnh C (bạn trai của T) bị bắt quả tang về hành vi cưỡng đoạt tài sản rồi C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ hình sự để điều tra về hành vi trên.

Đến trưa ngày 22/3/2023, Công an xã V, huyện L mời bà Ẩ đến trụ sở Công an xã V để làm việc liên quan đến việc C bị bắt. N hay tin C bị bắt tại Công an xã V nên chủ động đến Công an xã V để tìm gặp bà Ẩ. Lợi dụng việc Lê Quan N2 (em ruột của N, cùng bị bắt quả tang chung với bà Ẩ và N vào ngày 03/3/2023 về hành vi đánh bạc trái phép) có hành vi đánh bạc nhưng không đủ định lượng nên Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N2 nên tại Công an xã V, mặc dù N không có quen biết với ai đang làm việc trong Công an huyện L nhưng N vẫn nói dối với bà Ẩ là N có quen biết với cán bộ Công an huyện L. N nói dối với bà Ẩ đã đưa 25.000.000 đồng cho cán bộ Công an huyện L để lo cho N2. Vì N lo được cho N2 nên N2 được thả về nhà và không bị xử lý hình sự. N còn nói dối với bà Ẩ, trường hợp của C, N sẽ lo được, với số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng thì trong vòng 03 ngày C sẽ được về nhà. Bà Ẩ nghe N nói như vậy nên tin tưởng là thật rồi đưa cho N 5.000.000 đồng ngay trước cổng trụ sở Công an xã V để lo cho C. N nhận tiền bỏ vào cốp xe của N rồi chạy đi. Cũng tại Công an xã V, N và bà Ẩ cho số điện với nhau để điện thoại liên lạc khi cần.

Đến khoảng 19 giờ 37 phút cùng ngày 22/3/2023, N sử dụng điện thoại nhãn hiệu Samsung, loại A23 màu đen, dùng số thuê bao 0763.978.581 điện thoại vào số thuê bao 0768.867.132 của bà Ẩ, N nói “Cô ơi, có tiền không, đưa thêm cho người ta”, bà Ẩ nói “Nhà có 10.000.000 đồng hà”, N nói “Cũng được”. Nói chuyện xong với N, bà Ẩ có điện thoại trao đổi với T để hỏi ý kiến T có nên đưa tiền thêm cho N nữa hay không thì T kêu bà Ẩ đưa tiền cho N để lo cho C. Khoảng 15 phút sau, N điều khiển xe đến nhà bà Ẩ để nhận tiền số tiền 10.000.000 đồng rồi N còn nói “Tranh thủ chuyển tiền sớm sớm cho người ta” thì N bỏ đi.

Đến khoảng 06 giờ 53 phút ngày 23/3/2023, giữa bà Ẩ và N có điện thoại trao đổi với nhau, rồi N đến nhà của bà Ẩ nói “Có tiền chưa để đưa cho người ta”, bà Ẩ trả lời “Giờ chưa có tiền, đến trưa đi chợ về mới có tiền” thì N nói “trưa về lấy”. Khoảng 15 phút sau, N điện thoại nói với bà Ẩ “Hồ sơ của C đã chuyển sang Viện kiểm sát nên 45.000.000 đồng người ta mới chịu nhận”. Lúc này bà Ẩ và T đồng ý để đưa thêm cho N, do không có tiền nên T mới cầm xe được số tiền 30.000.000 đồng đưa bà Ẩ. Một lúc sau, N đến nhà bà Ẩ để nhận 30.000.000 đồng và hứa trong vòng 03 ngày C sẽ được về nhà.

Sau khi đưa tiền cho N, bà Ẩ đợi hết 03 ngày nhưng C vẫn chưa được trả tự do nên bà Ẩ điện thoại cho N, hỏi việc C chưa được về nhà thì N nói “Do cô đưa tiền trễ quá nên hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát và chờ 09 ngày C sẽ được về”. Đến ngày 30/3/2023, T nhắn tin vào số điện thoại của N (0763.978.xxx) đòi lại số tiền 45.000.000 đồng nhưng N không trả lời. Ngày 31/3/2023, T tiếp tục nhắn tin đòi lại số tiền 45.000.000 đồng thì N nhắn tin hứa hẹn ra nhà T để nói chuyện. Đến khoảng 11 giờ, ngày 01/4/2023, N đến nhà bà Ẩ để nói chuyện, lúc này bà Ẩ và T nghi ngờ bị N lừa nên yêu cầu N trả lại số tiền 45.000.000 đồng thì N không đồng ý trả và hẹn 21 ngày C sẽ được về và hưởng tù treo; N còn kêu T làm đơn cho C, còn không bảo lãnh được thì lo án treo, nếu C bị phạt tù thì N sẽ trả lại số tiền này nhưng T và bà Ẩ không đồng ý, vẫn tiếp tục yêu cầu N trả lại số tiền 45.000.000 đồng nhưng N không đồng ý trả. Đến ngày 07/4/2023, T làm đơn trình báo đến Công an huyện L về vụ việc N có hành vi lừa đảo.

Đến sáng ngày 17/4/2023, N điều khiển xe đến nhà của bà Ẩ để trả lại số tiền 22.000.000 đồng rồi yêu cầu bà Ẩ rút đơn tố giác đối với N nhưng bà Ẩ không đồng ý nhận số tiền này, mà yêu cầu N trả đủ 45.000.000 đồng thì bà Ẩ sẽ rút đơn không tố giác N nữa, nhưng N không đồng ý rồi N bỏ lại số tiền 22.000.000 đồng tại nhà của bà Ẩ. Lúc này, T lấy 22.000.000 đồng giao nộp cho Công an huyện L. Đến tối ngày 18/4/2023, ông Lê Văn L (ba ruột N) đến nhà của bà Ẩ để trả thêm số tiền 23.000.000 đồng còn lại rồi T lấy số tiền 23.000.000 đồng này giao nộp cho Công an huyện L.

Cơ quan điều tra đã thu giữ: Của Lê Hoàng N: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại A23 màu đen của Lê Hoàng N; của Đặng Thị Mỹ T: 01 USB màu đỏ, nội dung ghi âm cuộc nói chuyện giữa N, T, bà Ẩ và số tiền 45.000.000 đồng.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số thuê bao 0768.867.132 của bà Nguyễn Ngọc Ẩ thể hiện: các ngày 22/3/2023, 23/3/2023, 24/3/2023, 25/3/2023, 27/3/2023, 29/3/2023 có phát sinh 13 cuộc gọi đến, 11 cuộc gọi đi, 02 cuộc gọi bị nhỡ với số thuê bao 0763.978.581 của Lê Hoàng N.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, màu xanh, số thuê bao 0772.020.642 của Đặng Thị Mỹ T với số thuê bao 0763.978.581 của Lê Hoàng N có các nội dung tin nhắn SMS như sau:

Vào lúc 19 giờ 27 phút ngày 30/3/2023, T gửi tin nhắn có nội dung: “Anh N bữa anh kêu em đưa anh 45.000.000 đồng anh hứa lo 03 ngày C ra được, anh nói nếu anh không lo được anh hoàn trả số tiền đó lại cho em, nay 09 ngày rồi, cũng không được gì, anh cho em xin số tiền đó lại nha anh”.

Vào lúc 19 giờ 10 phút ngày 31/3/2023, T gửi tin nhắn có nội dung: “Em nói anh nghe nè chổ anh em em tin tưởng anh, mới giao cho anh 45 triệu để cứu C ra, mà anh hứa lần hứa lượt, bữa anh nói 3 ngày ra không ra anh trả em lại số tiền đó, nay 10 ngày rồi, anh cho em xin lại số tiền đó nha anh để em lo cho C về sau này nữa, bữa em cũng có tiền đâu em cầm xe của em á”, “Như giờ em năn nỉ anh luôn á, em không muốn làm lớn chuyện, em xin anh lại số tiền đó để lo cho C về sau này thôi”.

Trong quá trình điều tra, truy tố Lê Hoàng N không thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu. N thừa nhận đã nhận số tiền 45.000.000 đồng của bà Ẩ, N chỉ hứa với bà Ẩ sẽ hỏi giúp vụ việc của C, chứ N không có hứa hẹn với bà Ẩ là 03 ngày hay 09 ngày C sẽ được trả tự do hay lo cho C được hưởng án treo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo N xác định: Nam không có quen biết ai đang làm việc trong Công an huyện L hay Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò nhưng vẫn nhận số tiền 45.000.000 đồng của các bị hại để hứa hẹn lo cho C nhưng N không lo cho ai, cũng không đưa tiền cho ai để hỏi lo cho C mà tiêu xài cá nhân nên khi bị hại yêu cầu N trả lại số tiền 45.000.000 đồng thì N không trả. Ngoài ra, theo lời khai của các bị hại, người làm chứng: Nam nói dối với bà Ẩ, khi Lê Quan N2 bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc ngày 03/03/2023, N đã lo tiền 25.000.000 đồng nên N2 mới được về nhà và còn nói trường hợp của C đưa 30.000.000 đồng hay 35.000.000 đồng thì trong vòng 3 ngày C sẽ được trả tự do. Bà Ẩ nghe như vậy tin là thật nên ngày 22/3/2023, tại Công an xã V, bà Ẩ đưa cho N 5.000.000 đồng. Đến tối ngày 22/3/2023 bà Ẩ đưa cho N số tiền 10.000.000 đồng tại nhà của bà Ẩ. Đến trưa ngày 23/3/2023, N tiếp tục nói dối, hồ sơ C chuyển sang Viện kiểm sát nên đưa thêm 30.000.000 đồng rồi N đến nhà bà Ẩ lấy 30.000.000 đồng, khi N nhận tiền có ông Nguyễn Thanh B (anh ruột bà Ẩ, ở kế bên nhà bà Ẩ) chứng kiến sự việc. Bên cạnh đó, nội dung cuộc nói chuyện giữa N, T, bà Ẩ tại nhà bà Ẩ vào ngày 02/4/2023 xoay quanh việc N hứa lo cho C được trả tự do, bị hại yêu cầu N trả lại số tiền 45.000.000 đồng nhưng N không đồng ý trả tiền cho bị hại. Nội dung cuộc nói chuyện này được bị hại T ghi âm lại và có sự chứng kiến của Nguyễn Thanh M cùng các biên bản kiểm tra điện thoại, kết luận giám định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2023/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo luật định.

Ngày 05 tháng 10 năm 2023, bị cáo Lê Hoàng N có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Lê Hoàng N bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lê Hoàng N.

Quan điểm của luật sư Nguyễn Văn H bào chữa cho bị cáo N cho rằng bị cáo N không phạm tội vì khi bị cáo N nhận tiền của bà Ẩ và chị T thì giao toàn bộ số tiền này lại cho một người tên là H1. Việc phạm tội của N xuất phát từ tình cảm cá nhân chứ không vì mục đích vụ lợi, bị cáo không hưởng lợi ích vật chất gì trong vụ án. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường xong cho các bị hại nên không để cập.

Bị cáo Lê Hoàng N cho rằng bị oan, đề nghị tuyên bị cáo vô tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng N không thừa nhận hành vi phạm tội, mà cho rằng bà Ẩ nhờ anh M điện thoại cho bị cáo hỏi bị cáo xem có quen ai, nhờ họ giúp giùm cho anh C (rễ bà Ẩ) đang bị Công an bắt. Bị cáo nhờ đến Huỳnh Trung H2 (anh H2 từng làm Công an huyện L) thì anh H2 nhận lời và kêu bị cáo nói với bà Ẩ đưa tiền để lo cho C, nếu không lo được sẽ hoàn trả lại. Bị cáo nói sự việc nêu trên với bà Ẩ, khi bà Ẩ đưa tiền, bị cáo đã nhận và chuyển cho anh H2 qua ngân hàng A, chuyển vào tài khoản số [...], chủ tài khoản tên Huỳnh Trung H2. Tuy bị cáo là người nhận số tiền 45.000.000 đồng của bà Ẩ, nhưng bị cáo chỉ hứa với bà Ẩ sẽ hỏi giúp vụ việc của C, chứ bị cáo không có hứa hẹn với bà Ẩ là 03 ngày hay 09 ngày C sẽ được trả tự do hay lo cho C được hưởng án treo. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 22/3/2023 và ngày 23/3/2023 tại trụ sở Công an xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và tại nhà của bà Ẩ thuộc ấp A, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo N đã nhận của bà Ẩ ba lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng để hứa lo cho C được trả tự do trong vụ cưỡng đoạt tài sản. Quá thời gian theo thoả thuận mà C vẫn chưa được trả tự do nên bà Ẩ và T nghi ngờ bị N lừa nên yêu cầu N trả lại số tiền 45.000.000 đồng thì N không đồng ý trả.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng căn cứ vào lời trình bày nêu trên của bị cáo, lời trình bày của của bị hại, biên bản đối chất giữa bị cáo và bị hại, kết luận giám định USB, lời khai của người làm chứng, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo là có tội, đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nại rằng sau khi nhận tiền từ bà Ẩ, bị cáo đã chuyển cho anh H2 qua ngân hàng A, chuyển vào tài khoản số [...], chủ tài khoản tên Huỳnh Trung H2. Bị cáo có cung cấp sao kê chi tiết giao dịch và đề nghị toà án triệu tập Huỳnh Trung H2 ra đối chất với bị cáo. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra ở cấp sơ thẩm đã chứng minh đầy đủ, ghi lời khai, cho đối chất rõ ràng và trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo không khai báo hay yêu cầu vấn đề này. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo mới yêu cầu và toà án cấp phúc thẩm đã triệu tập anh H2 nhiều lần nhưng không có kết quả. Cho nên bị cáo cũng không cung cấp thêm được tình tiết gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Hành vi của bị cáo Lê Hoàng N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên bị cáo đã có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của bà Ẩ, chị T là 45.000.000 đồng. Khi thực hiện hành vi, bị cáo thừa biết hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Hoàng N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật, không oan ức gì cho bị cáo. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Bị cáo kháng cáo kêu oan nhưng với những chứng cứ và luận cứ nêu trên đã chứng minh hành vi của bị cáo là có tội nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên.

[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng N không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Lê Hoàng N. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Hoàng N.
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    Bị cáo Lê Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - TAND huyện Lấp Vò (03 bản);
  • - VKSND huyện Lấp Vò;
  • - Chi cục THADS huyện Lấp Vò;
  • - CQCSĐT CA huyện Lấp Vò;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQTHAHS CA huyện Lấp Vò;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 135/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger