TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày 13/7/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng;
Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2024/QÐST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn T, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số nhà A, thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1924 (đã chết) và bà Dương Thị X, sinh năm 1920 (đã chết); vợ: Trần Thị H, sinh năm 1976; con: có 02 con, sinh năm 1995 (đã chết) và 1999; tiền án: Không có; tiền sự: Không có.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 18/02/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Văn H1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Dương Văn Q, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Lương Văn T3, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Hoàng Văn Q1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Lương Văn S, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ông Trần Mạnh H3, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn G, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Chị Đỗ Thị Minh C, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/02/2024, Đỗ Văn T đi ăn sáng cùng với Hoàng Văn H1, Hoàng Văn T2 và Dương Văn Q. Sau đó, rủ nhau đi về nhà bị cáo uống nước. Một lúc sau, T2 và Q đi về trước. Bị cáo rủ H1 ở lại đánh bạc và thì H1 đồng ý.
Sau đó, bị cáo sử dụng điện thoại di động N 1280 lắp sim số 0373.383.126 nhắn tin, gọi điện cho Dương Văn Q, Lương Văn T3, Hoàng Văn Q1, rủ đến nhà bị cáo đánh bạc. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Lương Văn S gọi điện thoại cho bị cáo thì bị cáo nói đang ở nhà và rủ đến đánh bạc. Một lúc sau, Đỗ Văn H2, Hoàng Văn T2 và Lương Văn S đi đến. Bị cáo đưa mọi người xuống nhà ngang để đánh bạc. Bị cáo lấy 01 tấm thảm bằng nỉ, màu đỏ trải dưới nền nhà và lấy 02 bộ bài T4 lơ khơ để dưới tấm thảm cho mọi người đánh bạc. H1, H2, T2 và S đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm. Bốn người thống nhất mức tiền là: Nếu người nào “ù” sẽ được 150.000 đồng của cả ba người còn lại; người nào nhất thì sẽ được của người về thứ nhì, ba, bét lần lượt là 40.000 đồng, 60.000 đồng và 80.000 đồng, người nào không có phỏm thì mất 100.000 đồng. Người nào “ù” phải bỏ ra 30.000 đồng để trên chiếu nộp cho chủ nhà (tiền hồ). Khi đánh bạc, H1 sử dụng 1.200.000 đồng; H2 sử dụng 2.360.000 đồng, T2 sử dụng số tiền 400.000 đồng và S sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền bốn người dùng đánh bạc là 4.460.000 đồng.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Dương Văn Q, Lương Văn T3, Hoàng Văn Q1 và Trần Mạnh H3 đi đến nhà bị cáo để đánh bạc. Bị cáo lấy 01 chiếc chiếu cói trải xuống nền ở khu vực chuồng lợn và lấy 02 bộ bài T4 lơ khơ để cho mọi người đánh bạc. Q, Q1, T3, H3 đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm. Bốn người thống nhất mức tiền là: Nếu người nào “ù” sẽ được 100.000 đồng của ba người còn lại; người nào nhất thì sẽ được của người về thứ nhì, ba, bét lần lượt là 20.000 đồng, 40.000 đồng và 60.000 đồng, người nào không có phỏm thì mất 80.000 đồng. Người nào “ù” phải bỏ ra 20.000 đồng để trên chiếu nộp cho chủ nhà (tiền hồ). Khi đánh bạc, Q sử dụng 300.000 đồng; H3 sử dụng 470.000 đồng; T3 sử dụng 480.00 đồng và Q1 sử dụng 1.690.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền bốn người dùng đánh bạc là 2.940.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi 8 đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an thành phố B kiểm tra hành chính. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng gồm:
- Thu giữ trên chiếu bạc thứ nhất trong nhà ngang:
- Số tiền 220.000 đồng là số tiền các đối tượng đánh bạc đã ù và bỏ ra chiếu cho chủ nhà;
- 01 tấm thảm bằng nỉ, màu đỏ; 02 bộ bài T4 lơ khơ trong thùng rác.
- Thu giữ trên chiếu bạc thứ 2 ở khu vực chuồng lợn:
- Số tiền 40.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu cói
- Tạm giữ của Hoàng Văn T2 01 chiếc xe máy biển số 98L4-4345.
- Tạm giữ của Lương Văn S 01 xe máy biển số 98M1-1584
- Hoàng Văn T2 giao nộp 610.000 đồng là số tiền sử dụng đánh bạc và 01 điện thoại di động OPPO A5S lắp sim số 0868.473.461
- Đỗ Văn H2 giao nộp 1.930.000 đồng là số tiền sử dụng đánh bạc; 01 ví da và 01 điện thoại di động Iphone 7Plus lắp sim số 0357.307.595.
- Hoàng Văn H1 giao nộp 500.000 đồng là số tiền sử dụng đánh bạc và 01 chiếc điện thoại di động N 1280 lắp sim số 0377.022.816.
- Tạm giữ của Dương Văn Q: 01 xe máy biển số 98M5-0554; số tiền 340.000 đồng để trong túi quần bên trái sử dụng để đánh bạc; 01 ví da bên trong có 7.700.000 đồng, số tiền này không sử dụng đánh bạc và 01 điện thoại di động Nokia 1280 lắp sim số 0967.319.578.
- Trần Mạnh H3 giao nộp 310.000 đồng là số tiền sử dụng đánh bạc và 01 điện thoại di động OPPO A16K lắp sim số 0981.235.715.
- Lương Văn T3 giao nộp 510.000 đồng là số tiền sử dụng để đánh bạc và 01 điện thoại di động OPPO A57 lắp sim số 0927.134.999
- Hoàng Văn Q1 giao nộp 1.590.000 đồng là số tiền sử dụng đánh bạc và 01 điện thoại di động OPPO A53 lắp sim số 0356.481.790
Ngoài ra còn tạm giữ của Đỗ Văn T số tiền 2.930.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Nokia 1280, màu đen lắp sim số 0373.383.126; tạm giữ số tiền 370.000 đồng ở trong bao đựng quả bưởi để ở nhà ngang.
Ngày 23/4/2024, Lương Văn S tự nguyện giao nộp 200.000 đồng là số tiền dùng đánh bạc cầm theo khi bỏ chạy.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đầu thú và khai nhận về hành vi tổ chức cho 8 đối tượng đánh bạc trên 2 chiếu bạc tại nhà mục đích để thu tiền hồ. Kiểm tra điện thoại di động N 1280, màu đen lắp sim số 0373.383.126 của bị cáo thấy còn lưu nhật ký cuộc gọi đến các số điện thoại của Dương Văn Q, Hoàng Văn Q1, Lương Văn S, Lương Văn T3.
Kết quả điều tra xác định số tiền đánh bạc tại 2 chiếu bạc như sau:
+ Chiếu bạc thứ nhất: Hoàng Văn H1 sử dụng 1.200.000 đồng; Đỗ Văn H2 sử dụng 2.360.000 đồng; Hoàng Văn T2 sử dụng 400.000 đồng và Lương Văn S sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 4.460.000 đồng. Chiếu bạc này đã để ra 220.000 đồng tiền hồ nhưng bị cáo chưa kịp nhận thì bị bắt.
+ Chiếu bạc thứ 2: Dương Văn Q sử dụng 300.000 đồng; Trần mạnh H4 sử dụng 470.000 đồng; Lương Văn T3 sử dụng 480.00 đồng và Hoàng Văn Q1 sử dụng 1.690.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 2.940.000 đồng. Chiếu bạc này bị cáo đã thu được 150.000 đồng tiền hồ.
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc trên hai chiếu đánh bạc ngày 18/02/2024 là 7.400.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 14/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố Đỗ Văn T về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà:
- Bị cáo Đỗ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng nêu. Buổi sáng ngày 18/02/2024, bị cáo tổ chức đánh bạc tại nhà bị cáo, gồm Hoàng Văn H1, Hoàng Văn T2, Đỗ Văn H2, Lương Văn S, Dương Văn Q, Trần Mạnh H3, Lương Văn T3, Hoàng Văn Q1, bằng hình thức đánh phỏm và thu tiền hồ. Nay bị cáo thấy là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm các ông Hoàng Văn H1, Hoàng Văn T2, Đỗ Văn H2, Lương Văn S, Dương Văn Q, Trần Mạnh H3, Lương Văn T3, Hoàng Văn Q1, đều có lời khai xác định: Buổi sáng ngày 18/02/2024, tại nhà bị cáo Đỗ Văn T các ông đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm, người nào “ù” phải bỏ ra 20.000 đồng để trên chiếu nộp cho chủ nhà (tiền hồ), các ông đã bị Công an thành phố B xử phạt hành chính, các ông đều không có ý kiến gì.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thị Minh C có lời khai xác định: Chị là con gái của bị cáo Đỗ Văn T. Ngày 18/02/2024, Công an thành phố B kiểm tra hành chính và bắt giữ ông Đỗ Văn T, có thu giữ chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 98B2-962.71 là xe của chị. Công an thành phố B đã trả lại cho chị, nay chị không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, nội dung hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (18/02/2024). Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ bài Tú lơ khơ; 01 tấm thảm bằng nỉ màu đỏ; 01 chiếc chiếu cói;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 6.400.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 3.150.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ các chứng cứ tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng đã có lời khai, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt theo Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
Sau khi xem xét lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tài liệu khác, Hội đồng xét xử thấy:
Buổi sáng ngày 18/02/2024, Đỗ Văn T sử dụng điện thoại di động nhắn tin, gọi cho các đối tượng đến nhà đánh bạc mục đích để thu tiền hồ. Bị cáo chuẩn bị 04 bộ bài T4 lơ khơ cho 8 đối tượng đánh bạc trên 2 chiếu bạc cùng một lúc.
Chiếu bạc thứ nhất gồm Hoàng Văn H1, Hoàng Văn T2, Đỗ Văn H2, Lương Văn S đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 4.460.000 đồng. Tại chiếu bạc này đã để ra 220.000 đồng tiền hồ. Chiếu bạc thứ 2 gồm Dương Văn Q, Trần Mạnh H3, Lương Văn T3, Hoàng Văn Q1 đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm. Tổng số tiền dùng đánh bạc là 2.940.000 đồng. Bị cáo đã thu tại chiếu bạc này 150.000 đồng tiền hồ.
Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc trên hai chiếu đánh bạc ngày 18/02/2024 là 7.400.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ.
Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội: “Tổ chức đánh bạc" theo điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự, quy định: “1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên”.
Do đó, Cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 14/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố đối với bị cáo Đỗ Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ, mức hình phạt là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết như sau:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ để áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội, để giáo dục bị cáo theo Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322; khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Các vấn đề khác:
6.1. Đối với Lương Văn S, Hoàng Văn Q1, Dương Văn Q và Trần Mạnh H3 chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc; tổ chức đánh bạc hay gá bạc; số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc không đủ định lượng cấu thành tội đánh bạc. Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
6.2. Đối với Lương Văn T3, Hoàng Văn H1, Hoàng Văn T2, Đỗ Văn H2 đã từng bị kết án về tội đánh bạc nhưng đều đã được xoá án tích, nên Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng nêu trên về hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.
6.3. Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại Lương Văn S chiếc xe máy biển số 98M1-1584; trả lại Hoàng Văn T2 chiếc điện thoại di động OPPO A5S lắp sim số 0868.473.461 và chiếc xe máy biển số 98L4-4345; trả lại Đỗ Văn H2 chiếc ví da và chiếc điện thoại di động Iphone 7Plus lắp sim số 0357.307.595; trả lại Hoàng Văn H1 chiếc điện thoại di động N 1280 lắp sim số 0377.022.816; trả lại Dương Văn Q chiếc xe máy biển số 98M5-0554; 01 chiếc ví da; số tiền 7.700.000 đồng; 01 điện thoại di động 1280 lắp sim số 0967.319.578; trả lại Lương Văn T3 chiếc điện thoại di động OPPO A57 lắp sim số 0927.134.999; trả lại Trần Mạnh H3 chiếc điện thoại di động OPPO A16K lắp sim số 0981.235.715; trả lại Hoàng Văn Q1 chiếc điện thoại di động OPPO A53 lắp sim số 0356.481.790. Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ..
- Về vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ bài Tú lơ khơ; 01 tấm thảm bằng nỉ màu đỏ; 01 chiếc chiếu cói;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 6.400.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 3.150.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
Phạt bổ sung: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 04 bộ bài Tú lơ khơ; 01 tấm thảm bằng nỉ màu đỏ; 01 chiếc chiếu cói;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 6.400.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại Nokia 1280.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 13/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Tình Đánh bạc
