|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2024/HS-ST
Ngày: 11 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Nhật Duật
Thẩm phán: ông Nguyễn Hồng Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Sinh; ông Đỗ Xuân Hoài và bà Trần Thị Kim Thủy
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Vũ Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Minh T (tên gọi khác: không có); sinh ngày 21/11/1981, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH T7.PNJ; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức H và bà Lê Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị C; có 04 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/4/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Ông Lê Thanh L, sinh năm 1958; nơi cư trú: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1971; nơi cư trú: thôn D, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Dương Thị S, sinh năm 1978; nơi cư trú: khu E, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1988; nơi cư trú: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1976; nơi cư trú: khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Vũ Xuân T2, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn C, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1966; nơi cư trú: khu A, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Vũ Văn T3, sinh năm 1988; nơi cư trú: khu H, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Bà Vũ Thị T4, sinh năm 1958; nơi cư trú: khu G, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Ông Lê Văn T5, sinh năm 1969; nơi cư trú: khu A, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1983; nơi cư trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Vũ Hồng Q, sinh năm 1981; nơi cư trú: khu E, phường N, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh T là Giám đốc Công ty TNHH T7.PNJ, địa chỉ tại: số H đường Â, khu E, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì Công ty của T không được phép hoạt động kinh doanh lĩnh vực chuyển đổi, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ). Nhưng trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2023 trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh do cần tiền để ăn tiêu và trả nợ, T đã có hành vi nói dối là quen biết nhiều lãnh đạo ở thị xã Q nên làm được việc chuyển đổi mục đích và cấp GCNQSDĐ. Sau đó, T đã hứa hẹn và nhận tiền của các ông, bà: Lê Thanh L, Vũ Thị L1, Hoàng Thị K, Vũ Xuân T2, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Văn L2, Lê Văn T5, Vũ Hồng Q, Vũ Văn T3, Dương Thị S, Vũ Thị H1 và Vũ Thị T4. Sau khi nhận tiền, T không thực hiện công việc như đã thỏa thuận mà chiếm đoạt tổng số tiền 2.902.290.000 đồng (hai tỷ chín trăm linh hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng), cụ thể như sau:
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt 140.000.000 đồng của ông Lê Thanh L:
Khoảng đầu năm 2021, ông Lê Thanh L nhờ Lê Minh T làm thủ tục chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất (QSDĐ) đối với 02 mảnh đất tại thôn Đ, xã L, thị xã Q từ đất ruộng thành đất ở lâu dài, T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 420.000.000đồng, đồng thời T bảo ông L phô tô và đưa cho T giấy tờ đất cùng căn cước công dân của ông L. Đến tháng 04/2021, ông L đưa cho T 70.000.000đồng, khi nhận tiền giữa ông L và T có làm biên bản nhận tiền đặt cọc, nội dung “anh Lê Thanh L (bên A) đặt cọc cho Lê Minh T (bên B) số tiền 70.000.000đồng để làm cấp đất bìa đỏ lần đầu”. Đến đầu tháng 05/2022, T tiếp tục nói với ông L đã làm xong thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và yêu cầu ông L đưa cho T số tiền 70.000.000đồng để nộp thuế, ông L đồng ý. Đến ngày 27/5/2022, ông L chuyển vào tài khoản số 10.868228419 của T mở tại Ngân hàng V số tiền 70.000.000đồng. Sau khi nhận tiền T không thực hiện việc như đã thỏa thuận với ông L, mà dùng để ăn tiêu và trả nợ hết. Một thời gian sau thấy T không thực hiện công việc như đã thỏa thuận, ông L hỏi thì T lấy nhiều lý do để nói dối ông L, khi ông L yêu cầu T phải trả lại tiền thì T mới trả cho ông L 20.000.000đồng. Sau đó, nhiều lần ông L yêu cầu T trả lại tiền nhưng T không trả. Đến ngày 23/12/2023, ông Lê Thanh L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trình báo, giao nộp: Biên bản giao nhận tiền đặt cọc, sổ phụ tài khoản tiền gửi và bản phô tô giấy chuyển nhượng đất.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 49.270.000 đồng của bà Vũ Thị L1:
Khoảng đầu năm 2021, bà Vũ Thị L1 nhờ Lê Minh T làm GCNQSDĐ đối với mảnh đất ở thôn D, xã T, thị xã Q mà bà L1 khai hoang từ năm 1995, T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 60.000.000đồng, đồng thời T bảo bà L1 phô tô và đưa cho T căn cước công dân của bà L1 và chồng là ông Cao Văn N. Ngày 03/3/2021, bà L1 giao cho T số tiền 35.000.000đồng, khi nhận tiền giữa chị L1 và T viết Giấy nhận tiền làm đất, nội dung “T nhận cọc của chị L1 35.000.000đồng, để làm sổ đất” và hẹn sau 04 tháng sẽ làm xong. Đến ngày 27/9/2021, T yêu cầu bà L1 phải chuyển số tiền 4.270.000đồng để làm hạn mức thuế, bà L1 đồng ý và chuyển khoản số tiền trên cho T. Khoảng 03 tháng sau, T tiếp tục yêu cầu bà L1 phải đưa 10.000.000đồng để làm thủ tục giảm hạn mức thuế, bà L1 đồng ý và tiếp tục đưa cho T 10.000.000đồng. Sau đó qua tìm hiểu thì bà L1 biết mảnh đất của mình không làm được GCNQSDĐ, bà L1 yêu cầu T phải trả lại tiền nhưng T đều trốn tránh, không trả lại tiền cho bà L1. Ngày 23/12/2023, bà Vũ Thị L1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trình báo, giao nộp: giấy nhận tiền làm đất, bản phô to căn cước công dân của bà L1.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 350.000.000 đồng của bà Dương Thị S:
Vào tháng 05/2022, thông qua tìm hiểu thì bà Dương Thị S biết Lê Minh T đang làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho một vài người dân trên địa bàn thị xã Q nên đã liên lạc với T để nhờ T làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất 56,5m² tại khu E phường N, thị xã Q thì T cam kết sẽ làm được và yêu cầu bà S phải bỏ chi phí số tiền 280.000.000 đồng để làm thủ tục, còn tiền công của T thì sau khi làm xong sẽ tính toán sau. Vì tin tưởng T nên trong thời gian từ tháng 5/2022 đến cuối năm 2022, bà S đã nhiều lần chuyển cho T tổng số tiền 350.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, T không làm thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà S mà sử dụng trả nợ và chỉ tiêu cá nhân hết. Đến tháng 01/2023, biết không còn khả năng trốn tránh nên T đã thừa nhận với bà S là T không làm được thủ tục đất cho bà S. Lúc này, bà S yêu cầu T trả lại tiền. Sau nhiều lần đòi tiền thì T đã trả cho bà S số tiền 85.000.000 đồng. Đến ngày 23/12/2023, bà Dương Thị S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trình báo, giao nộp: 01 giấy đặt cọc tiền đất đề ngày 05/5/2022, 01 giấy nhận tiền cọc đất đề ngày 01/7/2022, 01 giấy hẹn trả lại tiền làm sổ đề ngày 11/01/2023, 01 giấy hẹn trả tiền đề ngày 29/3/2023.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 192.000.000 đồng của chị Hoàng Thị K:
Khoảng tháng 01/2021, chị Hoàng Thị K nhờ Lê Minh T làm GCNQSDĐ đối với mảnh đất tại thôn C, xã T, thị xã Q, T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 80.000.000đồng. Sau đó, T đã cho người đến đo đạc mảnh đất trên của chị K. Đến ngày 21/01/2021, chị K giao cho T số tiền 40.000.000đồng cùng sổ hộ khẩu gia đình và CCCD của ông Đỗ Văn S1. Khi nhận tiền T có viết giấy biên nhận đặt cọc tiền cấp đất lần đầu, nội dung “T nhận tiền của chị K tiền trích lục tiền niêm yết” và hứa hẹn khoảng 05 tháng thì làm xong. Đến hẹn, T đưa ra nhiều lý do và nói chưa làm xong. Đến ngày 29/10/2023, T gửi cho chị K hình ảnh văn bản “Hạn mức sử dụng thuế” ngày 01/11/2021 có đóng dấu của Chi cục thuế khu vực U - Q và giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả ngày 07/7/2022 của Trung tâm hành chính công của UBND thị xã Q, đồng thời yêu cầu chị K phải đưa tiếp số tiền 152.000.000đồng để nộp thuế và làm thủ tục cấp GCNQSDĐ, chị K đồng ý và giao tiền cho T, khi giao tiền hai bên không viết giấy tờ biên nhận. Đến hạn, không thấy T làm được GCNQSDĐ như đã thỏa thuận, chị K yêu cầu T trả lại tiền, nhưng T vẫn hứa hẹn làm được GCNQSDĐ cho chị K. Do thấy T không thực hiện được công việc như đã thỏa thuận nhưng cũng không trả lại tiền nên ngày 23/12/2023, chị Hoàng Thị K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q trình báo, giao nộp: 01 giấy biên nhận đặt cọc tiền cấp đất lần đầu, bản phô tô căn cước công dân của chị K.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 275.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị C1:
Do có nhu cầu làm chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở đối với thửa đất ở khu A, phường H, thị xã Q nên bà Nguyễn Thị C1 đã nhờ Lê Minh T, T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 450.000.000đồng. Để bà C1 tin tưởng, T đã thuê một người không quen biết đến đo đạc mảnh đất của bà C1. Đến ngày 20/9/2021, bà C1 đưa cho T 100.000.000đồng và bản gốc GCNQSDĐ. Đến ngày 21/10/2021, T nói với bà C1 “đã làm xong diện tích đất xây dựng” và bảo bà C1 đưa tiếp 20.000.000đồng, bà C1 đồng ý và đưa tiền cho T. Đến ngày 25/10/2021, T nói với bà C1 “đưa tiền cho T để làm nốt 407m² sang đất xây dựng rồi lấy sổ về luôn”, chị C1 đã đưa thêm cho T 155.000.000đồng. Sau đó, thấy T không làm được công việc như đã thỏa thuận, bà C1 yêu cầu T phải trả lại tiền nhưng T chỉ hứa hẹn mà không trả lại tiền cho bà C1. Đến ngày 24/7/2023, bà C1 và T viết giấy biên nhận giao nhận tiền và thỏa thuận, có nội dung “T nhận của chị C1 275 triệu đồng để làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng anh T không làm được, nay anh T trả trước cho chị C1 40 triệu, đến ngày 18/8/2023 trả 100 triệu và đến ngày 15/9/2023 trả 135 triệu”. Hết thời hạn trên T không trả lại tiền cho bà C1, nên bà C1 đã đến Cơ quan Công an trình báo.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 450.000.000 đồng của anh Vũ Xuân T2:
Khoảng tháng 08/2021, anh Vũ Xuân T2 nhờ Lê Minh T làm chuyển đổi mục đích sử dụng đối với 03 thửa đất tại thôn C và thôn H xã L, thị xã Q, T đồng ý và thỏa thuận: tiền công là 420.000.000đồng, còn lại tiền thuế, tiền đo đất và các chi phí khác thì anh T2 sẽ phải đóng. Ngày 19/8/2021, anh T2 đưa cho T 420.000.000đồng, khi nhận tiền T viết giấy biên nhận, nội dung “T nhận của anh T2 số tiền 420.000.000đồng để cấp đất khai hoang lần đầu (cấp sổ lần đầu)”. Hai ngày sau, T cho người đến đo đạc đất cho anh T2 và anh T2 trả tiền công là 1.500.000đồng. Sau đó T bảo anh T2 đưa CCCD của vợ chồng anh T2 và sổ hộ khẩu gia đình cho T. Một thời gian sau, thấy T chưa làm được công việc như đã thỏa thuận, anh T2 điện thoại cho T thì T nói cuối năm 2021 sẽ làm xong. Hết thời hạn T lấy nhiều lý do để nói chưa làm được công việc như đã thỏa thuận với anh T2. Sau đó trong khoảng thời gian từ tháng 06/2022 đến tháng 10/2022, T bảo anh T2 chuyển khoản cho T số tiền 30.000.000đồng để làm quà cám ơn, anh T2 đồng ý và chuyển tiền cho T. Sau đó, nhiều lần anh T2 gặp T để hỏi về công việc nhưng T chỉ hứa hẹn mà không thực hiện công việc. Đến ngày 16/6/2023, T và anh T2 viết biên bản hòa giải và giao nhận tiền, nội dung “T nhận của anh T2 450.000.000đồng để làm GCNQSDĐ cho anh T2 nhưng đến nay T chưa làm xong, T trả trước cho anh T2 100.000.000đồng, còn 350.000.000đồng sẽ trả vào ngày 20/9/2023, nếu thực hiện trái điều trên T phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Hết thời hạn, T không trả lại tiền cho T2 nên ngày 23/12/2023, anh T2 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp: 01 giấy biên nhận đặt cọc, 01 biên bản giao nhận tiền đề ngày 16/6/2023 và 01 sao kê tài khoản ngân hàng.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 570.600.000 đồng của bà Vũ Thị H1:
Khoảng tháng 05/2022, do có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở đối với 02 mảnh đất ở phường N, thị xã Q nên bà Vũ Thị H1 đã nhờ Lê Minh T, T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 500.000.000đồng, hẹn đến tháng 10/2022 sẽ xong. Ngày 24/5/2022, bà H1 đưa cho T 250.000.000đồng, khi nhận tiền T viết giấy nhận cọc tiền đất (cấp đất lần đầu), nội dung “T nhận cọc của chị H1 số tiền 250.000.000đồng” và đóng dấu của Công ty TNHH T7.PNJ - Giám đốc: Lê Minh T. Đến ngày 16/6/2022, bà H1 đưa tiếp cho T 137.000.000đồng, nhận tiền T viết giấy nhận cọc hạn mức lần 2 và đến ngày 11/7/2022, bà H1 đưa cho T 150.000.000đồng, nhận tiền T có viết giấy biên nhận. Đến khoảng tháng 09/2022, T gọi điện bảo bà H1 đưa 18.600.000đồng để đóng thuế, bà H1 đồng ý và đưa tiền cho T. Đến khoảng tháng 01/2023, T tiếp tục bảo bà H1 đưa 15.000.000đồng để đi quan hệ, giải quyết công việc, bà H1 đồng ý và đưa tiền cho T. Sau đó, T không thực hiện công việc như đã thỏa thuận với bà H1, khi bà H1 hỏi thì T đưa ra nhiều lý do để hứa hẹn với bà H1. Sau đó, T có nhờ mẹ đẻ là bà Lê Thị Tuyết T6 cho bà H1 số tiền 30.000.000đồng. Ngày 23/12/2023, bà Vũ Thị H1 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp bản phô tô các tài liệu, gồm: các giấy biên nhận tiền, GCNQSDĐ, CCCD.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 84.000.000 đồng của anh Vũ Văn T3:
Khoảng đầu năm 2022, anh Vũ Văn T3 nhờ Lê Minh T làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn tạp sang đất xây dựng đối với thửa đất mang tên ông Lê Sỹ H2 (sinh năm 1964, nơi cư trú tại: khu F, phường P, thị xã Q), T đồng ý và thỏa thuận chi phí hết 160.000.000đồng, đồng thời T bảo anh T3 đưa trước cho T số tiền 79.000.000đồng để nộp thuế và chi phí dịch vụ, anh T3 đồng ý. Ngày 11/7/2022, anh T3 đưa cho T 79.000.000đồng, khi nhận tiền T viết giấy cọc tiền làm đất (90m²) xây dựng và hẹn trong thời hạn 03 tháng sẽ làm xong. Khoảng 01 tuần sau, T dẫn người đến đo đạc vị trí mảnh đất của anh T3, rồi bảo anh T3 trả tiền công đo đất là 5.000.000đồng. Đến hạn, T không thực hiện được công việc như đã thỏa thuận nhưng cũng không trả lại tiền cho anh T3. Ngày 23/12/2023, anh T3 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp: giấy cọc tiền làm đất đề ngày 11/7/2022 và bản phô tô GCNQSDĐ số CP 559993.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 258.000.000 đồng của bà Vũ Thị T4:
Khoảng đầu năm 2022, bà Vũ Thị T4 nhờ Lê Minh T làm GCNQSDĐ đối với mảnh đất tại khu G, phường N, thị xã Q, T đồng ý và thỏa thuận tiền công là 40.000.000đồng, còn các chi phí khác chị T4 phải thanh toán. Ngày 02/01/2022, bà T4 đưa cho T số tiền 40.000.000đồng, nhận tiền T viết giấy nhận tiền cọc đất và hẹn trong 01 tháng sẽ làm xong. Ngày hôm sau T đưa người đến đo đạc vị trí mảnh đất của bà T4 để làm tin, đồng thời bảo bà T4 thanh toán tiền công cho người đo đất số tiền là 3.000.000đồng. Đến ngày 08/01/2022, T bảo bà T4 đưa tiếp cho T 15.000.000đồng. Đến ngày 08/3/2022, T bảo bà T4 đưa cho T số tiền 200.000.000đồng và hứa hẹn khi nào ra nộp thuế để cấp sổ thì bà T4 sẽ đi cùng T đến kho bạc để nộp tiền, bà T4 đồng ý và đưa tiền cho T, khi nhận tiền T viết giấy nhận tiền nộp thuế đất. Đến thời hạn, T lấy nhiều lý do để trì hoãn việc chưa làm được việc như đã thỏa thuận. Đến tháng 12/2022, T hứa hẹn với bà T4 “nếu không làm được công việc như đã thỏa thuận thì sẽ trả lại tiền cho bà T4”. Sau đó, T không làm được công việc như đã thỏa thuận và cũng không trả tiền cho bà T4. Ngày 23/12/2023, bà Vũ Thị T4 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp các tài liệu phô tô gồm: giấy nhận tiền cọc đất ngày 22/01/2022 và giấy nhận tiền nộp thuế đất ngày 08/3/2022.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 381.420.000 đồng của ông Lê Văn T5:
Khoảng đầu năm 2022, ông Lê Văn T5 nhờ Lê Minh T làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng đối với 02 mảnh đất ở khu A, phường N, thị xã Q, T đồng ý và nói “anh T5 phải đưa trước cho T số tiền 240.000.000đồng” và hứa hẹn đến tháng 09/2022 sẽ làm xong. Sau đó trong khoảng thời gian từ ngày 17/6/2022 đến ngày 28/9/2022, ông T5 đã 04 lần đưa tiền cho T với tổng số tiền là 381.420.000đồng, khi nhận tiền thì T đều viết giấy nhận tiền cọc đất, có đóng dấu của Công ty TNHH T7.PNJ - Giám đốc Lê Minh T. Đến tháng 11/2022, thấy T chưa làm được GCNQSDĐ, ông T5 hỏi T thì T nói vẫn đang làm và sắp hoàn thành. Sau đó, ông T5 yêu cầu T phải trả lại tiền nhưng T chỉ hứa hẹn mà không trả lại tiền cho ông T5. Đến ngày 23/12/2023, ông Lê Văn T5 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp các tài liệu, gồm: các giấy biên nhận tiền đề ngày 17/6/2022, 14/7/2022 và 28/9/2022.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 92.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn L2:
Khoảng đầu năm 2022, anh Nguyễn Văn L2 nhờ Lê Minh T làm chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất xây dựng đối với mảnh đất tại khu G, phường N, thị xã Q, T đồng ý và nói chi phí hết 92.000.000đồng, hẹn trong 03 tháng sẽ làm xong. Đến ngày 05/7/2022, anh L2 đưa cho T số tiền 92.000.000đồng, nhận tiền T viết giấy nhận tiền cọc làm sổ đỏ và đóng dấu Công ty TNHH T7.PNJ - Giám đốc Lê Minh T. Đến hạn, thấy T không làm công việc như đã thỏa thuận, anh L2 nhiều lần gọi điện nhưng T chỉ hứa hẹn mà không thực hiện công việc như đã thỏa thuận, cũng không trả lại tiền. Đến ngày 23/12/2023, anh L2 đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp các tài liệu gồm: giấy nhận tiền cọc đề ngày 05/7/2022 và bản phô tô GCNQSDĐ của anh Nguyễn Văn L2.
-
Hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 60.000.000 đồng của anh Vũ Hồng Q:
Khoảng tháng 10/2022, anh Vũ Hồng Q nhờ Lê Minh T làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp thành đất xây dựng đối với mảnh đất ở khu E, phường N, thị xã Q, T đồng ý và nói chi phí hết 60.000.000đồng. Ngày 03/11/2022, anh Q đưa cho T số tiền 60.000.000đồng, khi nhận tiền T viết giấy cọc tiền đất và đóng dấu Công ty TNHH T7.PNJ - Giám đốc Lê Minh T, hứa hẹn đến tháng 01/2023 sẽ làm xong. Đến hạn T không làm được công việc như đã thỏa thuận với anh Q, khi anh Q hỏi thì T chỉ hứa hẹn với anh Q nhưng cũng không trả lại tiền. Đến ngày 23/12/2023, anh Q đến Cơ quan Công an trình báo, giao nộp các tài liệu có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 284/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q kết luận các chữ ký, chữ viết mang tên “Lê Minh T” trong các tài liệu cần giám định (các Giấy biên nhận tiền giữa bị hại và Lê Minh T) là do T ký và viết.
Sau khi bị tố giác, ngày 28/4/2024 Lê Minh T bị bắt tạm giam. Quá trình điều tra, Lê Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. T khai toàn số tiền chiếm đoạt của các bị hại, T đã sử dụng để trả nợ khoản vay ngân hàng, nợ cá nhân và chi tiêu hết. Quá trình thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền, bị cáo chủ động trả một phần số tiền chiếm đoạt cho các bị hại: trả cho anh Vũ Xuân T2 số tiền 100.000.000 đồng, trả cho ông Lê Thanh L số tiền 20.000.000 đồng, trả cho bà Vũ Thị H1 số tiền 30.000.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị C1 số tiền 40.000.000 đồng, trả cho bà Dương Thị S số tiền 85.000.000 đồng. Đối với trường hợp của bà C1 và bà S, bị cáo T khai ngoài số tiền đã trả nêu trên, T đã trả thêm một số tiền nữa nhưng không nhớ chính xác bao nhiêu tiền.
Trong quá trình điều tra: bị cáo, bị hại có nội dung lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Các bị hại đều có quan điểm yêu cầu Lê Minh T phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt.
Tại bản Cáo trạng số 6055/CT-VKSQN-P2 ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã trả số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại Lê Thanh L, trả 85.000.000 đồng cho bị hại Dương Thị S, trả 100.000.000 đồng cho bị hại Vũ Xuân T2, trả 30.000.000 đồng cho bị hại Vũ Thị H1, trả 40.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị C1 và chấp nhận trả lại số tiền đã chiếm đoạt như yêu cầu của các bị hại.
Các bị hại có mặt tại phiên toà có lời khai về hành vi lừa đảo và số tiền bị chiếm đoạt như nội dung vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo; đều có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại. Cụ thể: ông Lê Thanh L yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 120.000.000 đồng; bà Dương Thị S yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 265.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị C1 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 235.000.000 đồng; anh Vũ Xuân T2 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 350.000.000 đồng; bà Vũ Thị H1 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 540.600.000 đồng; anh Vũ Văn T3 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 84.000.000 đồng; bà Vũ Thị T4 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 258.000.000 đồng; ông Lê Văn T5 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 381.420.000 đồng; anh Nguyễn Văn L2 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 92.000.000 đồng và anh Vũ Hồng Q yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 60.000.000 đồng.
Các bị hại Vũ Thị L1 và Hoàng Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra về hành vi lừa đảo và số tiền chiếm đoạt của bị cáo và có quan điểm đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và yêu cầu bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đưa ra các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Minh T phạm và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Minh T từ 13 năm đến 14 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Lê Minh T phải có nghĩa vụ trả cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt như yêu cầu của các bị hại, được trừ đi số tiền 275.000.000đ (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo đã trả cho các bị hại.
Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại khác về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; phù hợp với các giao dịch chuyển tiền; giấy nhận tiền và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: do cần tiền để ăn tiêu và trả nợ, nên trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2022, trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Minh T đã có hành vi nói dối, đưa ra các thông tin không có thật, hứa hẹn làm để cấp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bị hại: Lê Thanh L, Vũ Thị L1, Hoàng Thị K, Vũ Xuân T2, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Văn L2, Lê Văn T5, Vũ Hồng Q, Vũ Văn T3, Dương Thị S, Vũ Thị H1 và Vũ Thị T4, để chiếm đoạt tiền. Do tin tưởng T nên các bị hại đã đưa tiền và bị T chiếm đoạt, cụ thể: chiếm đoạt của ông Lê Thanh L 140.000.000 đồng; của bà Vũ Thị L1 49.270.000 đồng; của bà Dương Thị S 350.000.000 đồng; của chị Hoàng Thị K 192.000.000 đồng; của bà Nguyễn Thị C1 275.000.000 đồng; của anh Vũ Xuân T2 450.000.000 đồng; của bà Vũ Thị H1 570.600.000 đồng; của anh Vũ Văn T3 84.000.000 đồng; của bà Vũ Thị T4 258.000.000 đồng; của anh Nguyễn Văn L2 92.000.000 đồng; của anh Vũ Hồng Q 60.000.000 đồng và của ông Lê Văn T5 381.420.000 đồng. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt là 2.902.290.000đồng (hai tỷ chín trăm không hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt nghiêm trọng; bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ra những xáo trộn và ảnh hưởng tiêu cực đến các mặt đời sống kinh tế, gia đình của những người bị hại làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Minh T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: do bị cáo đã nhiều lần có hành vi gian dối để thực hiện chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; quá trình thực hiện hành vi phạm tội đã chủ động trả cho các bị hại tổng số tiền 275.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đều có quan điểm yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt và bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Xét thấy yêu cầu về số tiền bị chiếm đoạt của các bị hại là đúng với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật, nên chấp nhận. Buộc bị cáo Lê Minh T phải trả lại số tiền 2.627.290.000 đồng cho các bị hại, cụ thể như sau: trả lại cho ông Lê Thanh L số tiền 120.000.000 đồng; trả lại cho bà Vũ Thị L1 49.270.000 đồng; trả lại cho bà Dương Thị S 265.000.000 đồng; trả lại cho chị Hoàng Thị K 192.000.000đồng; trả lại cho bà Nguyễn Thị C1 235.000.000 đồng; trả lại anh Vũ Xuân T2 350.000.000 đồng; trả lại bà Vũ Thị H1 540.600.000 đồng; trả lại anh Vũ Văn T3 84.000.000 đồng; trả lại bà Vũ Thị T4 258.000.000 đồng; trả lại anh Nguyễn Văn L2 92.000.000 đồng; trả cho anh Vũ Hồng Q 60.000.000 đồng và trả lại cho ông Lê Văn T5 381.420.000.000 đồng.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo hiện phải có nghĩa vụ trả cho các bị hại với số tiền lớn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với hành vi Lê Minh T tự làm tài liệu “Hạn mức sử dụng thuế” để chị Hoàng Thị K tin tưởng chuyển tiền. Ngày 26/9/2024, Phòng K1 - Công an tỉnh Q có công văn số: 854/KTHS trao đổi: “Không giám định qua ảnh đối với chữ ký, hình dấu”. Do vậy, không đủ cơ sở pháp lý để kết luận tài liệu “Hạn mức sử dụng thuế” là tài liệu giả. Hành vi này của Lê Minh T không đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự nên không đề cập xử lý.
Đối với người đàn ông tên T2 được Lê Minh T thuê để đo đất: Tài liệu điều tra không có căn cứ xác định T2 có sự bàn bạc, thống nhất với T về việc lừa đảo, chiếm đoạt tiền của các bị hại nên không đồng phạm với T do đó không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh T: 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/4/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Lê Minh T phải có nghĩa vụ trả lại cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể như sau:
- Trả lại cho ông Lê Thanh L số tiền 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng);
- Trả lại cho bà Vũ Thị L1 số tiền 49.270.000 đồng (Bốn mươi chín triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng);
- Trả lại cho bà Dương Thị S số tiền 265.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu đồng);
- Trả lại cho chị Hoàng Thị K số tiền 192.000.000 đồng (Một trăm chín mươi hai triệu đồng);
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị C1 số tiền 235.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng);
- Trả lại cho anh Vũ Xuân T2 số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng);
- Trả lại cho bà Vũ Thị H1 số tiền 540.600.000 đồng (Năm trăm bốn mươi triệu, sáu trăm nghìn đồng);
- Trả lại cho anh Vũ Văn T3 số tiền 84.000.000 đồng (Tám mươi tư triệu đồng);
- Trả lại cho bà Vũ Thị T4 số tiền 258.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi tám triệu đồng);
- Trả lại cho ông Lê Văn T5 số tiền 381.420.000 đồng (Ba trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng);
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn L2 số tiền 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng);
- Trả lại cho anh Vũ Hồng Q số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Lê Minh T có nghĩa vụ nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 84.545.800đ (Tám mươi tư triệu, năm trăm bốn mươi lăm nghìn, tám trăm đồng) án phí dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Văn Sinh Trần Thị Kim Thủy |
Nguyễn Nhật Duật THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đỗ Xuân Hoài Nguyễn Hồng Ánh |
Nguyễn Nhật Duật |
Nơi nhận:
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- -VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Quảng Ninh;
- - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
- - Bị cáo; bị hại;
- - Lưu hồ sơ, VP.
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: do cần tiền để ăn tiêu và trả nợ, nên trong khoảng thời gian từ năm 2021 đến năm 2022, trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Minh T đã có hành vi nói dối, đưa ra các thông tin không có thật, hứa hẹn làm để cấp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bị hại: Lê Thanh L, Vũ Thị L1, Hoàng Thị K, Vũ Xuân T2, Nguyễn Thị C1, Nguyễn Văn L2, Lê Văn T5, Vũ Hồng Q, Vũ Văn T3, Dương Thị S, Vũ Thị H1 và Vũ Thị T4, để chiếm đoạt tiền. Do tin tưởng T nên các bị hại đã đưa tiền và bị T chiếm đoạt, cụ thể: chiếm đoạt của ông Lê Thanh L 140.000.000 đồng; của bà Vũ Thị L1 49.270.000 đồng; của bà Dương Thị S 350.000.000 đồng; của chị Hoàng Thị K 192.000.000 đồng; của bà Nguyễn Thị C1 275.000.000 đồng; của anh Vũ Xuân T2 450.000.000 đồng; của bà Vũ Thị H1 570.600.000 đồng; của anh Vũ Văn T3 84.000.000 đồng; của bà Vũ Thị T4 258.000.000 đồng; của anh Nguyễn Văn L2 92.000.000 đồng; của anh Vũ Hồng Q 60.000.000 đồng và của ông Lê Văn T5 381.420.000 đồng. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt là 2.902.290.000đồng (hai tỷ chín trăm không hai triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng)
