Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08/8/2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Cảm và bà Trần Thị Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2024 ngày 12/3/2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1979;

Nơi thường trú: Buôn A, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Số E K, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1976;

Nơi thường trú: Buôn A, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Chỗ ở hiện nay: Số D Hẻm Đ, Tổ dân phố C, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Thái H chung sống trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 25/7/2012. Sau khi về chung sống thì đến năm 2019 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi nhau, ông H bạo lực gia đình, hiện nay vợ chồng sống ly thân. Sau khi sống ly thân thì tôi đi làm tại thành phố Hồ Chí Minh, còn chồng tôi vẫn ở thành phố B. Nguyện vọng của tôi là yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng tôi có 01 con chung là Nguyễn Phạm Hoàng Đ, sinh ngày 07/5/2010. Hiện nay cháu Đ đang ở cùng tôi ở thành phố Hồ Chí Minh. Nguyện vọng của tôi về con chung là xin được nuôi cháu Đ cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn ông Nguyễn Thái H: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng và không tham gia phiên tòa, qua xác minh tại địa phương cho biết hiện nay ông H hiện tại đang cư trú tại địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không nắm rõ, khoảng hai đến ba năm nay giữa bà T và ông H không sống chung với nhau nữa mà bà T đã đi khỏi địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án từ khi Tòa án thụ lý và tại phiên tòa sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo Bộ luật tố tụng dân sự còn bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Hoàng Đ, sinh ngày 07/5/2010 cho bà Phạm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là ly hôn và nuôi con đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3].Về nội dung: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Thái H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Hiện nay bà T và ông H đã sống ly thân nhau. Hội đồng xét xử, xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được và đời sống chung vợ chồng không còn. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Bà T và ông H có 01 con chung là Nguyễn Phạm Hoàng Đ, sinh ngày 07/5/2010, hiện nay cháu Đ đang ở với bà T. Khi ly hôn bà T có nguyện vọng được nuôi cháu Đ cho đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Đ có nguyện vọng ở với bà T và hiện nay cháu Đ đang còn nhỏ nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, để đảm bảo sự phát triển toàn diện cho cháu Đ nên cần giao cháu Đ cho bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp; Về cấp dưỡng nuôi con chung bà T không yêu cầu nên không xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 144, Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Thái H.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Hoàng Đ, sinh ngày 07/5/2010 cho bà Phạm Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009563 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
  2. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đăk Lăk;
  • - VKSND tỉnh Đắk lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP. BMT;
  • - UBND P.Ea Tam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 135/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thắm. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thắm được ly hôn với ông Nguyễn Thái Hòa. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phạm Hoàng Đức, sinh ngày 07/5/2010 cho bà Phạm Thị Thắm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thắm phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009563 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger