TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày 07 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lan - Giáo viên nghỉ hưu
- Bà Bùi Kim Dung - Giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, tên gọi khác: không; sinh ngày 08 tháng 02 năm 1986, tại tỉnh Nghệ An (ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 06 tháng 25 ngày); nơi cư trú: thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 02/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ1; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt truy nã ngày 15/12/2023, bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023 được thay thế biện pháp “Tạm giữ” bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn S, sinh năm 1958 và bà Đoàn Thị T (đã chết); nơi cư trú: tổ H, khu A, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bà Đoàn Thị T là ông Nguyễn S, sinh năm 1958; nơi cư trú: tổ H, khu A, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Võ Quang N, vắng mặt; bà Nguyễn Thị Đ1, vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 9/2002, Nguyễn Thị H được vợ chồng ông Nguyễn S và bà Đoàn Thị T (đã chết) thuê làm việc tại quán Karaoke của ông bà ở tầng 1 khách sạn T6 (nay thuộc tổ C, khu E, phường B, thành phố H). Khi đến xin việc H lấy tên là Á, H được ông S, bà T cho sinh hoạt tại quán. Quá trình sinh sống tại quán nên H biết ông S, bà T thường hay để tiền trong 01 chiếc hòm tôn để ở trên 01 chiếc ghế đẩu gần đầu giường trong phòng ngủ của bà T, ông S nên H nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong chiếc hòm này. Khoảng 12 giờ ngày 02/9/2002, khi H cùng bà T, ông S ngồi xem tivi tại tầng 1, khách sạn T6 thì H giả vờ đau đầu phải đi nghỉ. Nhân lúc ông S, bà T không để ý, H đi sang phòng ngủ của 02 ông bà lấy trộm chiếc hòm tôn rồi đi ra cửa sau của quán lên trên khu vực đồi cây. Tại đây, H dùng tay cậy phần mép ngoài của hòm tôn rồi thò tay vào bên trong hòm tôn lấy được số tiền 30.000.000 đồng. H lấy hết tiền cho vào người rồi bỏ lại hòm tôn và một số giấy tờ ở trên đồi. Tiếp đó, H men theo đường đồi đi xuống đường Quốc lộ đón xe đi về thành phố Hà Nội. Sau đó, H không về nhà mà đi làm ở nhiều tỉnh thành. Đến ngày 15/12/2023, H bị Phòng C Công an tỉnh Q bắt giữ theo quyết định truy nã.
Tại Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung nêu trên.
Bị hại - Ông Nguyễn S có lời khai phù hợp với nội dung nêu trên. Gia đình ông đã bị H trộm cắp chiếc hòm tôn, bên trong có 30.000.000 đồng. Ông đã được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền bị mất, không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H.
Người làm chứng - ông Võ Quang N, sinh năm 1960; nơi thường trú: tổ F, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có lời khai: Ông N là bảo vệ của Khách sạn T6 thuộc khu E, phường B, thành phố H. Ngày 02/9/2002, ông N trực ca 01 từ 07 giờ đến 15 giờ cùng ngày tại khách sạn. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, ông N đang ngồi phòng bảo vệ trước sảnh khách sạn thì thấy 01 người phụ nữ tên Á là nhân viên quán Karaoke của ông S, bà T đi từ phòng ngủ của ông S, bà T đi ra, trên tay phải của chị Á có ôm 01 chiếc hòm tôn màu trắng. Ông N biết chị Á là nhân viên quán Karaoke của ông S, bà T nên không gọi lại để kiểm tra. Chị Á đi ra sân khách sạn rồi đi hướng nào ông N không để ý vì nghĩ rằng ngày 02/9 nên ông S, bà T cho nhân viên nghỉ để về quê. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, ông N đang ngồi ở phòng bảo vệ thì nghe thấy bà T hô hoán mất trộm. Ông N hỏi thì bà T cho biết kẻ gian đã lấy trộm 01 chiếc hòm tôn trong phòng ngủ. Bên trong chiếc hòm tôn có tiền và một số giấy tờ. Ông N có nói với bà T tầm 12 giờ 15 phút chị Á bê một chiếc hòm tôn từ phòng ngủ của ông bà đi ra ngoài.
Tại Cáo trạng số: 773/CT-VKSHL ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ kể từ ngày Cơ quan Thi hành án cấp huyện nhận được quyết định thi hành án về tội “trộm cắp tài sản”, được trừ đi 09 ngày tạm giữ quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo vì khi phạm tội bị cáo chưa thành niên. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cặp màu đen có kích thước khoảng (40cm x 30cm x 20cm) có chữ DIESEL, tay xách bằng nhựa màu đen bị gãy; 01 chiếc áo hai quai treo vải màu xanh nõn chuối; 01 chiếc quần vải màu nâu tươi; 01 chiếc váy lửng màu vàng có hai dây treo, 01 chiếc áo dài tay trễ cổ, có hình vuông; 01 chiếc quần dài loe màu nâu lông chuột; 01 chiếc áo hoa ngắn tay cổ tròn chui đầu buộc dây; 01 chiếc váy lửng hai quai treo màu tím; 01 chiếc váy díp lửng hai quai treo vải bò; 01 chiếc váy díp lửng màu đen; 01 chiếc quần âu dài màu tím; 01 chiếc quần âu dài vải kẻ karo đường kẻ đen, trắng màu xanh; 01 chiếc khăn mùi xoa nền màu tím có hoa; 01 chiếc khăn mùi xoa viền đỏ, có hoa; 01 trang giấy kẻ nền trắng có ghi chữ Nguyễn Văn Đ, xóm D T xã Q, tỉnh Nghệ An, huyện Q; 01 quyển sổ màu đen, ngoài có chữ CLASSICA.
Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Bị cáo có đề nghị từ chối người đại diện hợp pháp và trợ giúp pháp lý vì đến thời điểm xét xử đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lời nói sau cùng: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về pháp luật áp dụng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực. Quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội “Trộm cắp tài sản” nặng hơn Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Theo Nghị quyết số 41 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 quy định: “Điều 2. Việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015:
- Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau:
...b) Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích”. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng chính sách quy định đối với người chưa thanh niên phạm tội tại chương X của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, theo quy định tại chương XII của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc Hội thì chính sách đối với người chưa thành niên phạm tội có lợi hơn nên cần áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, chương XII, Điều 100 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét trách nhiệm hình sự theo hướng có lợi cho bị cáo.
[1.3] Về xác định ngày, tháng sinh của bị cáo: quá trình điều tra, xác định có một số tài liệu trong hồ sơ có mâu thuẫn về ngày, tháng sinh của H, cụ thể: Lý lịch bị can lập ngày 13/9/2002 của Công an thành phố H thể hiện H sinh ngày 08/02/1986; Giấy khai sinh bản sao cấp ngày 27/10/2002 thể hiện H sinh ngày 30/01/1986; Quyết định truy nã ngày 01/11/2002 của Công an thành phố H thể hiện H sinh ngày 30/01/1986; sổ hộ khẩu cấp năm 2003 của gia đình thể hiện H sinh ngày 30/12/1986; Kết luận giám định độ tuổi trên người sống thể hiện: đến thời điểm giám định tháng 12/2023, độ tuổi của H là từ 35 năm đến 40 năm. Ngoài ra, trong sổ rửa tội của Giáo xứ Y, xã Q, thị xã H (nơi H sinh ra và theo Đ2 Thiên chúa) thể hiện: Hảo sinh ngày 08/02/1986, rửa tội ngày 14/02/1986.
Tiến hành xác minh tại Công an xã Q; Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An; Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Nghệ An; Trạm y tế xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Phòng giáo dục và Phòng Tư pháp của huyện Q, tỉnh Nghệ An; Phòng giáo dục và Phòng y tế của thị xã H, tỉnh Nghệ An; Trường tiểu học Q1; Trường tiểu học Q2 đều không có tài liệu về ngày tháng năm sinh của Nguyễn Thị H.
Tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An được biết: sổ đăng ký khai sinh từ năm 1986 đến năm 1999 đã bị thất lạc nên UBND xã Q không còn lưu giữ thông tin, tài liệu về việc đăng ký, khai sinh của công dân. Kiểm tra sổ đăng ký khai sinh quyển số 01 TP/HT-1999A mở ngày 01/01/2000 của xã Q, huyện Q (nay là thị xã H), tỉnh Nghệ An thấy: năm 2002 không có bất kỳ thông tin nào liên quan đến việc cấp bản sao giấy khai sinh cho Nguyễn Thị H, sinh ngày 30/01/1986, nơi sinh xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Ngoài ra, kiểm tra tất cả các sổ sách, giấy tờ còn lại liên quan đến việc đăng ký khai sinh của công dân xã Q, không có bất kỳ sổ sách nào có thông tin về việc đăng ký cấp lại, hay sao y giấy khai sinh cho Nguyễn Thị H.
Tiến hành kiểm tra bản sao giấy khai sinh của Nguyễn Thị H thì ông Nguyễn Xuân D là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q cho biết: bản sao giấy khai sinh của Nguyễn Thị H, sinh ngày 30/01/1986, nơi sinh: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An). Con ông: Nguyễn Văn Đ; con bà: Nguyễn Thị Đ1 được ông Trần Văn T1 - Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q cấp ngày 27/10/2002 là không hợp lệ vì không ghi số thứ tự và quyển sổ số bao nhiêu. Thời điểm cấp bản sao giấy khai sinh thì ông Bùi Đình T2 không phải là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, mà ông Trần K, sinh năm 1949, hiện trú tại: thôn I, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An mới là chủ tịch UBND xã Q.
Ông Hồ Văn Q là Trưởng thôn 4, xã Q cho biết bắt đầu ghi chép sổ quản lý theo dõi nhân khẩu các hộ gia đình thuộc thôn D, xã Q từ năm 1997 đến nay. Trong sổ sách của ông Q thể hiện, số thứ tự 22 là hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ có thông tin thể hiện: Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/02/1986. Theo ông Q trình bày ông Q có thông tin về gia đình ông Đ là do ghi chép lại từ sổ theo dõi của Giáo xứ Y, xã Q do ông Lê Xuân T3, sinh năm 1951 (nguyên trưởng ban hành giáo thuộc giáo xứ Y) quản lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H làm việc với ông Lê Xuân T3, sinh năm 1951, trú tại: thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An (nguyên trưởng ban hành giáo Giáo xứ Y, xã Q) được biết: ông T3 được giáo xứ Y giao trách nhiệm quản lý sổ rửa tội và bắt đầu ghi chép, quản lý Sổ rửa tội họ Y tại Giáo xứ Y, xã Q từ năm 1971 đến nay. Quyển sổ này do ông T3 sao lại thời điểm năm 1994 (vì sổ cũ đã sử dụng lâu năm). Ông T3 cho biết trong sổ thể hiện: hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ số nhân danh trong sổ thứ tự 78, nhà ông Nguyễn Văn Đ theo đạo Thiên chúa giáo, có con gái Anna Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/02/1986, được làm lễ rửa tội theo giáo lý của đạo Thiên chúa giáo vào ngày 14/02/1986 do Cha Nguyễn Khắc T4, sinh năm 1936 (đã chết) làm lễ; ngày thêm sức 25/6/1995. Tại sổ rửa tội này không còn ai có thông tin sinh cùng ngày 08/02/1986 và làm lễ rửa tội vào ngày 14/02/1986 giống như H. Những ngày ghi trong sổ rửa tội được tính theo dương lịch. Theo giáo lý của Đ2 Thiên chúa thì một người sau khi sinh ra trong vòng 3-7 ngày phải làm lễ rửa tội, có trường hợp cá biệt sau khoảng 2-3 tháng nhưng tuyệt đối không thể có trường hợp H sinh năm 1987 mà trong sổ rửa tội lại ghi H rửa tội ngày 14/02/1986 được.
Bà Nguyễn Thị Đ1 (mẹ đẻ của bị cáo H) khai sinh H vào ngày 30/12/1986 âm lịch do bà T5 đỡ đẻ, còn dương lịch sinh năm 1987 cụ thể ngày tháng thì bà không nhớ rõ. Sau khi sinh H được 3-7 ngày thì có mời người ở giáo xứ Y về làm lễ rửa tội. Sau khi sinh H thì chồng là ông Đ có đến Ủy ban nhân dân xã Q để làm thủ tục xin cấp giấy khai sinh cho H sinh ngày 30/12/1986 nhưng hiện đã bị mất giấy khai sinh này. H chỉ học hết lớp 1 đang học lớp 2 tại trường tiểu học Q2 thì bị bỏng phải bỏ học. Ngoài sổ hộ khẩu gia đình bà không lưu bất cứ tài liệu gì liên quan đến ngày tháng năm sinh của H. Sau khi được xem sổ rửa tội của Giáo xứ Y thể hiện: hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ số nhân danh trong sổ thứ tự 78, nhà ông Nguyễn Văn Đ theo đạo Thiên chúa giáo, có con gái Anna Nguyễn Thị H, sinh ngày 08/02/1986, được làm lễ rửa tội theo giáo lý của đạo Thiên chúa giáo vào ngày 14/02/1986 bà không có ý kiến gì, bởi bà là giáo dân có niềm tin tuyệt đối vào Giáo xứ, nhà thờ. Bà không có ý kiến gì về việc Cơ quan tiến hành tố tụng xác định H sinh ngày 08/02/1986.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H khai với cơ quan điều tra khi thì sinh ngày 30/12/1986, khi thì khai sinh ngày 30/01/1986. Bị cáo xác định trước khi bị bắt truy nã, chưa bao giờ nhìn thấy giấy khai sinh và sổ hộ khẩu gia đình, chỉ khi bị bắt mới được em trai là Nguyễn Văn H1 nói cho biết việc sổ hộ khẩu ghi ngày tháng năm sinh của H là 30/12/1986. Khi làm việc với cơ quan điều tra, bị cáo được xem bản sao giấy khai sinh cấp ngày 27/12/2002 ghi ngày tháng năm sinh của bị cáo 3 nên bị cáo nghĩ mình sinh ngày đó. Sau khi được xem sổ rửa tội của Giáo xứ ghi chép thì bị cáo có niềm tuyệt đối vào sổ rửa tội, bị cáo không có ý kiến gì về việc cơ quan tiến hành tố tụng xác định bị cáo sinh ngày 08/02/1986.
Theo lịch vạn niên năm 1986 âm lịch thì tháng 12/1986 không có ngày 30 như bà Đ1 khai. Ngày 08/02/1986 dương lịch theo sổ rửa tội là ngày 30/12/1985 âm lịch.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, có đủ cơ sở xác định bản sao giấy khai sinh của Nguyễn Thị H, sổ hộ khẩu bản sao không có giá trị chứng cứ. Chỉ có Lý lịch bị can lập ngày 13/9/2002, sổ rửa tội, lời khai của H và bà Nguyễn Thị Đ1 (mẹ đẻ H) phù hợp nhau về ngày, tháng, năm sinh của H, do đó có căn cứ xác định ngày sinh của H là ngày 08/02/1986.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H thể hiện, khoảng 12 giờ ngày 02/9/2002, tại quán Karaoke trong khách sạn T6 thuộc tổ C, khu E, phường B, thành phố H, Nguyễn Thị H đã lợi dụng sơ hở trộm cắp số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) của vợ chồng ông Nguyễn S và bà Đoàn Thị T. Sau khi phạm tội, H bỏ trốn đi nhiều nơi đến ngày 15/12/2023, H bị Phòng C Công an tỉnh Q bắt theo quyết định truy nã.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh phù hợp với lời khai của bị hại về việc bị mất tài sản. Đồng thời phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: xét đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn nên cần phải được xét xử nghiêm theo pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:không.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Thị H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính: xét thấy bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế; có nơi cư trú rõ ràng; nhân thân chưa tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đảm bảo giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 2 Điều 100 Bộ luật Hình sự, không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: khi bị cáo phạm tội là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền 30.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đối với 01 chiếc cặp màu đen có kích thước khoảng (40cm x 30cm x 20cm) có chữ DIESEL, tay xách bằng nhựa màu đen bị gãy; 01 chiếc áo hai quai treo vải màu xanh nõn chuối; 01 chiếc quần vải màu nâu tươi; 01 chiếc váy lửng màu vàng có hai dây treo, 01 chiếc áo dài tay trễ cổ, có hình vuông; 01 chiếc quần dài loe màu nâu lông chuột; 01 chiếc áo hoa ngắn tay cổ tròn chui đầu buộc dây; 01 chiếc váy lửng hai quai treo màu tím; 01 chiếc váy díp lửng hai quai treo vải bò; 01 chiếc váy díp lửng màu đen; 01 chiếc quần âu dài màu tím; 01 chiếc quần âu dài vải kẻ karo đường kẻ đen, trắng màu xanh; 01 chiếc khăn mùi xoa nền màu tím có hoa; 01 chiếc khăn mùi xoa viền đỏ, có hoa; 01 trang giấy kẻ nền trắng có ghi chữ Nguyễn Văn Đ, xóm D T xã Q, tỉnh Nghệ An, huyện Q; 01 quyển sổ màu đen, ngoài có chữ CLASSICA, đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo không có nhu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 36; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo được trừ đi 09 ngày tạm giữ (từ ngày 15/12/2023 đến ngày 24/12/2023) quy đổi là 27 ngày cải tạo không giam giữ (cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ).
Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Thị H được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cặp màu đen có kích thước khoảng (40cm x 30cm x 20cm) có chữ DIESEL, tay xách bằng nhựa màu đen bị gãy; 01 chiếc áo hai quai treo vải màu xanh nõn chuối; 01 chiếc quần vải màu nâu tươi; 01 chiếc váy lửng màu vàng, có hai dây treo; 01 chiếc áo dài tay trễ cổ, có hình vuông; 01 chiếc quần dài loe màu nâu lông chuột; 01 chiếc áo hoa ngăn tay cổ tròn chui đầu buộc dây; 01 chiếc váy lửng hai quai treo màu tím; 01 chiếc váy díp lửng hai quai treo vải bò; 01 chiếc váy díp lửng màu đen; 01 chiếc quần âu dài màu tím; 01 chiếc quần âu dài vải kẻ karo đường kẻ đen, trắng màu xanh; 01 chiếc khăn mùi xoa nền màu tím có hoa; 01 chiếc khăn mùi xoa viền đỏ, có hoa; 01 trang giấy kẻ nền trắng có ghi chữ Nguyễn Văn Đ, xóm D T xã Q, tỉnh Nghệ An, huyện Q; 01 quyển sổ màu đen, ngoài có chữ CLASSICA.
(tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 191/BB-THA ngày 06/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 94/2024/HSST-CĐKNCT ngày 26/4/2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 143/2024/QĐ-THXC ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Cúc |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H - trộm cắp tài sản
