Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HNGĐ-ST;

Ngày: 7/5/2024;

V/v tranh chấp HNGĐ-Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Ngọc Liêm, ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 7 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thùy D – sinh năm 2000. Cư trú: số 13 ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang;
  2. Địa chỉ liên lạc E khu phố B, khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

  3. Bị đơn: Anh Trần Tuấn K – sinh năm 1998. Cư trú: số 163 tổ C ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị D trình bày chị và anh Trần Tuấn K quen biết và tiến tới hôn nhân năm 2018 có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống được 2 năm thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hay cải nhau và không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Tuấn K.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phạm Hoàng G, sinh ngày 20/7/2020 hiện đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Tuấn K đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gởi đến Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định. Về ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân: chị D, anh K kết hôn và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không còn chung sống với nhau từ năm 2020, nhận thấy tình cảm không còn, chị D yêu cầu ly hôn; vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phạm Hoàng G, sinh ngày 20/7/2020; khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con chung; anh K không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị D xin ly hôn và yêu cầu được nuôi con chung là phù hợp Điều 56, 80, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại xã N, huyện C, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
  2. Về nội dung tranh chấp: chị D, anh K kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị D trình bày vợ chồng chung sống được khoảng 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nhận thấy, tình cảm không còn, chị D yêu cầu ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc chị D yêu cầu ly hôn và triệu tập anh K tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, nhưng anh K vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị D. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D, anh K nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh K không lo làm ăn, hay cờ bạc nên từ thường hay cải nhau và không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian này, hai bên cũng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D xin ly hôn anh K.
  3. Về quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phạm Hoàng G, sinh ngày 20/7/2020. Hiện do chị D chăm sóc nuôi dưỡng; khi ly hôn chị D yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, con chung do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cuộc sống đã ổn định, trong quá trình giải quyết anh K cũng không có ý kiến phản đối. Do đó, để chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp với pháp luật, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
  5. Về quan hệ nợ chung: không có.
  6. Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị D phải chịu là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Thùy D xin ly hôn ông Trần Tuấn K.
  • Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 31 tháng 01 năm 2020 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.

  • Về quan hệ con chung:
  • Chị Phạm Thị Thùy D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Phạm Hoàng G, sinh ngày 20/7/2020; anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  • Về quan hệ tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết.
  • Về quan hệ nợ chung: Không có.
  • Ghi nhận việc chị D xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị D, anh K phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

  • Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Phạm Thị Thùy D phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0015027 do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 16/02/2024.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn.
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình (ly hôn, nuôi con)

  • Số bản án: 135/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân Gia đình (Ly hôn, nuôi con)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn xin ly hôn vì tình cảm không còn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger