Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2023/HS-ST

Ngày: 06 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Diệu Oanh

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Ông Bùi Văn Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2023/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Đức V, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1997 tại T, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T (Đã chết) và con bà Bùi Thị N; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26/4/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt".

Người làm chứng: Bà Bùi Thị N “vắng mặt”.

Người chứng kiến: Ông Phạm Thế L, nơi cư trú: Phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đức V là người sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 22 giờ ngày 24/4/2023, Phạm Xuân H là bạn bè xã hội của V gọi điện rủ V đến quán Bar Q ở phường T, thành phố N chơi, V đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 Biển kiểm soát 35A-284.35 đi tới quán. Đến nơi V gặp H và các bạn của H đang ngồi ở bàn tầng 1 trong quán. Trong lúc ngồi tại bàn, V nghe thấy một người bạn của H tên C (không biết rõ họ tên đệm, năm sinh, địa chỉ cụ thể) nói “đồ dưới gầm bàn ai chơi thì lấy chơi”, V thấy H lấy khoảng 03 viên ma túy kẹo dưới gầm bàn để lên mặt bàn. Sau đó, V lấy 01 viên ma túy kẹo cầm và cắn ½ viên để sử dụng, còn ½ viên V để trên mặt bàn mục đích tiếp tục sử dụng. Khoảng hơn 00 giờ ngày 25/4/2023 V đi về trước và lấy ½ viên ma túy kẹo đang để trên mặt bàn cất giấu vào trong ví giả da mầu đen của mình rồi để ở túi quần phía sau bên phải, mục đích khi có nhu cầu sẽ lấy sử dụng tiếp. Khi ra đến xe ô tô, V bỏ chiếc ví chứa ½ viên ma túy kẹo trong hộp để đồ ở gần vị trí cần số của xe rồi điều khiển xe về khu vực thành phố T, tỉnh Ninh Bình ngủ. Khoảng 04 giờ ngày 25/4/2023 V gọi điện cho H hỏi “đang ở đâu” thì H nói “đang ở nhà Ngọc A lên đây”. V điều khiển xe ô tô đến nhà trọ của Ngọc A ở số A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Đến nơi, V đỗ xe ô tô trên vỉa hè trước cửa nhà, chiếc ví chứa ½ viên ma túy kẹo V vẫn để trên xe ô tô. V đi vào trong nhà, lên tầng hai vào phòng trong cùng thì gặp H, Ngọc A, T1, O, lúc này trong phòng đang mở nhạc và bật đèn chớp. Khi V vào phòng thì H nói với V “còn kẹo kìa chơi đi”, V lấy viên ma túy kẹo đang để trên bàn vi tính trong phòng sử dụng rồi nằm nghe nhạc, lúc sau V lấy đĩa chứa ma túy “ke” trên bàn vi tính sử dụng 02 đường “ke” rồi để đĩa chứa ma túy “ke” còn lại trên bàn vi tính rồi tiếp tục lên giường nằm nghe nhạc cùng mọi người.

Hồi 06 giờ ngày 25/4/2023 tổ công tác Công an phường N, thành phố N kiểm tra nơi cư trú nhà số A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Thấy có cơ quan công an kiểm tra, V lấy túi ma túy ke và đĩa sứ chứa ma túy ke trên bàn vi tính mang vào nhà vệ sinh trong phòng đổ và xả nước, rồi để lại chiếc đĩa sứ lên bàn vi tính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên bàn để máy vi tính tại phòng cuối tầng 2 có 01 đĩa sứ mầu trắng và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn hình ống đều bám dính chất tinh thể mầu trắng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Ngọc A thu giữ trong phòng ngủ tầng 2: Thu trong thùng rác cạnh tủ lạnh 01 túi nilon mầu trắng, viền xanh, kích thước khoảng (2x3) cm bên trong bám dính chất tinh thể mầu trắng; thu trên bàn máy vi tính 01 đĩa sứ mầu trắng, đường kính khoảng 30 cm, trên mặt đĩa có 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng đều bám dính chất tinh thể mầu trắng; thu tại vị trí kẽ giường và bàn máy tính 02 vỏ túi nilon mầu trắng, viền mầu đỏ, kích thước khoảng (4x7)cm bên trong 01 túi có 01 vỏ túi nilon mầu trắng, viền mầu xanh kích thước khoảng (2x3)cm bên trong bám dính chất tinh thể mầu trắng; thu 01 bộ loa mầu đen trên bàn máy vi tính; 02 đèn chớp tại nền nhà; thu giữ của Ngọc A 02 điện thoại di động, thu giữ của O, V, H, T1, T2 mỗi người 01 điện

thoại di động; thu giữ 03 thẻ nhớ tại Camera lắp ở hàng lang tầng 1, tầng 2; thu giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B3-048.14.

Quá trình cơ quan công an khám xét nơi ở của Ngọc A, V khai nhận đang cất giấu ½ viên ma túy dạng kẹo mầu xám trong chiếc ví giả da mầu đen để trên chiếc ô tô đang đỗ trước cửa nhà số 194 với mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra khám xét xe ô tô biển kiểm soát 35A-284.35, thu giữ: Tại vị trí cần số của xe ô tô 01 ví giả da mầu đen bên trong có 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Trần Đức V; 01 mảnh viên dạng nén mầu xám được niêm phong vào phong bì ký hiệu K11. T3 tại vị trí hộp đựng đồ phía trước 01 giấy biên nhận giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V1 với Trần Đức V ngày 24/10/2022, thu giữ xe ô tô biển kiểm soát 35A-284.35.

Tiến hành cân xác định khối lượng mảnh viên nén mầu xám thu giữ của Trần Đức V có khối lượng là 0,245 gam ký hiệu M1 gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 355/KL-KTHS-MT ngày 05/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 chứa mảnh viên nén mầu xám có khối lượng 0,2457 gam là ma túy, loại MDMA. MDMA là chất ma túy được quy định tại Danh mục IB, số thứ tự 11 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H1 lại đối tượng giám định gồm: Chất bột mầu xám còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1710 gam, là ma túy, loại MDMA và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì ghi số 355/KL-KTHS-MT.

Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKSTPNB ngày 12/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố.

Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người làm chứng bà Bùi Thị N khai: Do gia đình có nhu cầu đi lại nên năm 2021 bà có đưa tiền cho Trần Đức V mua trả góp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 Biển kiểm soát 35A-284.35, đến nay hàng tháng bà vẫn đưa tiền cho V đi trả ngân hàng. Do bà không biết lái xe ô tô nên bà cho V làm thủ tục đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe. Ngày 25/4/2023, V lấy xe đi đâu, làm gì không nói với bà. Quá trình điều tra, V đã ủy quyền cho bà nhận lại xe ô tô, bà N đã được cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 Biển kiểm soát 35A-284.35.

Người chứng kiến ông Phạm Thế L khai: Khoảng hơn 06 giờ ngày 25/4/2023 ông được cơ quan công an mời chứng kiến kiểm tra nơi cư trú của số nhà A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình kiểm tra, ông thấy V khai nhận đang cất giấu ma túy trong chiếc ví để trên xe ô tô biển kiểm soát 35A-284.35, cơ quan công an khám xét phát hiện tại vị trí cần số xe ô tô có 01 ví giả da mầu đen bên trong ví có 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Trần Đức V, 01 mảnh viên nén mầu xám, thu tại vị trí hộp để đồ phía trước ghế phụ bên phải 01 giấy đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần V1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Đức V từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/4/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: Chất dạng bột mầu xám còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1710 gam, là ma túy, loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; phong bì, vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 ví giả da mầu đen.

Trả lại cho Trần Đức V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone bên trong có lắp sim.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Đức V trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo Trần Đức V đề nghị Tòa án xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Trần Đức V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, Biên bản khám xét ngày 25/4/2023,

vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 25/4/2023 tại khu vực số nhà A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Trần Đức V có hành vi cất giấu trái phép 0,2457 gam ma túy loại MDMA trong 01 ví giả da để trên xe ô tô nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C1, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi cơ quan công an khám xét nhà số A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình Trần Đức V xin đầu thú, khai nhận đang cất giấu ma túy trong chiếc ví giả da mầu đen để trên xe ô tô. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo sức khỏe yếu đã từng điều trị tại Bệnh viện K cắt toàn bộ đại tràng, trực tràng; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật.

[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, lành mạnh tại địa phương, tiềm ẩn nguy cơ gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Việc đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm

giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với các vật chứng bao gồm: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1710 gam, là ma túy, loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; phong bì niêm phong ban đầu, 01 ví giả da cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone có lắp sim là tài sản của Trần Đức V, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho V theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 căn cước công dân, 01 bằng lái xe mang tên Trần Đức V; 01 xe ô tô biển kiểm soát 35A-284.35, 01 giấy biên nhận giữ bản chính đăng ký xe đang thế chấp giữa Trần Đức VNgân hàng V1 là giấy tờ tùy thân và tài sản của V, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bà Bùi Thị N là người được V ủy quyền.

[4] Những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Trần Đức VPhạm Xuân H khai nhận khoảng 22 giờ ngày 24/4/2023 tại quán Bar Q thuộc phường T, thành phố N, V cùng H và nhóm bạn của H ngồi uống rượu, nghe nhạc tại bàn dưới tầng 1 của quán, người bạn của H tên C nhà ở Thái Bình nói có “đồ dưới gầm bàn ai chơi thì lấy chơi”. Sau đó H lấy 03 viên ma túy kẹo dưới gầm bàn để lên mặt bàn mục đích để sử dụng. V thấy có ma túy trên bàn liền lấy 01 viên ma túy kẹo, sử dụng ½ viên, còn lại ½ viên để ở mặt bàn. Đến khoảng 12 giờ đêm, V ra về nên đã lấy ½ viên ma túy kẹo tại mặt bàn bỏ vào ví giả da của mình với mục đích để sử dụng, khi lên xe V bỏ chiếc ví ở vị trí cần số xe. V, H không biết rõ họ tên đệm, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của C nên không có căn cứ điều tra xác minh làm rõ nguồn gốc số ma túy.

Quá trình điều tra Trần Đức VPhạm Xuân H đều không xác định được phần ma túy kẹo thu giữ trong ví giả da của V có được lấy từ số ma túy kẹo H để lên mặt bàn hay không, H cũng không biết việc V lấy phần ma túy trên bàn cất giấu vào ví; do đó không có căn cứ để xử lý Phạm Xuân H đồng phạm với Trần Đức V về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại số nhà A, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình của các đối tượng Nguyễn Ngọc A2, Phạm Xuân H, Lại Văn T4, Nguyễn Bùi T5, Lê Thị Kim O1 và toàn bộ tài sản, đồ vật thu giữ được trong quá trình khám xét nhà số A; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã khởi tố điều tra, xử lý trong một vụ án khác.

[5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Đức V 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (26/4/2023).
  3. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả gồm M1 có khối lượng 0,1710 gam, là ma túy, loại MDMA, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 ví giả da mầu đen.
    • - Trả lại cho bị cáo Trần Đức V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax bên trong có lắp sim.

    (Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 10 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Đức V phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Ninh Bình (1);
  • - Công an TP Ninh Bình (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Ninh Bình (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

(Đã ký)

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 135/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 08 giờ ngày 25/4/2023 tại khu vực số nhà 194, đường Nguyễn Công Trứ, phố Đại Phong, phường NB, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Trần Đức V có hành vi cất giấu trái phép 0,2457 gam ma túy loại MDMA trong 01 ví giả da để trên xe ô tô nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger