TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 135/2023/HS-ST Ngày: 06 - 11 -2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân:Ông Mạc Vương Long.
- Ông Nguyễn Xuân Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số : 136/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Liễu Văn B; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1980; NĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Sán dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Liễu Thanh C, sinh năm 1952 (đã chết); Mẹ đẻ: Đặng Thị M, sinh năm 1953 trú tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Vợ: Trần Thị Ngọc L sinh năm 1983; Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2014.
- Họ và tên: Lưu Văn V; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1979; NĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Sán dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 05/12; Chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lưu Văn S, sinh năm 1959 (đã chết); Mẹ đẻ: Chu Thị M1, sinh năm 1958 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1978; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005
Tiền án, Tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2013/HSST ngày 22/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử tuyên phạt Liễu Văn B 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng, phạt 3.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Truy thu số tiền 100.000 đồng và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 24/7/2014 Ba đã chấp hành xong toàn bộ theo bản án, tính đến ngày phạm tội mới đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023 đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt
Tiền án, Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023 cho đến nay, hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Trí H, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Phạm Thị T, sinh năm 1983. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: T2, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn H1, sinh năm 1967. Vắng mặt.
- Nguyễn Văn M2, sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Vi Văn K, sinh năm 1988 Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người chứng kiến:
- Đặng Văn B1, sinh năm 1965 Vắng mặt.
- Đinh Trọng Đ, sinh năm 1969. Vắng mặt.
- Đinh Công L1, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 50 phút ngày 16/7/2023 Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phối hợp với Công an xã H tuần tra tại khu vực thôn T, xã H, huyện L, phát hiện Liễu Văn B, sinh năm 1980 trú tại thôn N, xã H, huyện L và Lưu Văn V, sinh năm 1979 trú tại thôn T, xã H, huyện L đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ tại túi quần bò phía sau bên phải của Liễu Văn B: 01 ví da bên trong chứa 01(một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong đựng 04(bốn) gói giấy bạc, có hai mặt màu trắng bạc đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Toàn bộ số đồ vật nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì dán kín kí hiệu “QT1”. Khi bị phát hiện, Lưu Văn V bỏ chạy một đoạn, rồi vất (ném) 01 vật vào vườn vải của gia đình ông Đặng Văn B1 ở gần đó, thì bị Công an bắt giữ, kiểm tra thu giữ của Lưu Văn V gồm: T1 tại túi áo đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba màu vàng, bên trong chứa 05 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong các túi nilon đều có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong túi nilon có bám dính chất màu đỏ nghi là ma túy. Toàn bộ số mẫu vật nghi là ma túy thu giữ của V được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT4”. Tiến hành kiểm tra gói vật do Lưu Văn V ném ra vườn vải, gồm: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ, bên trong chứa đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT6”. Ngoài ra còn thu giữ của Liễu Văn B gồm: T1 tại túi áo trước ngực bên trái 01 ống xi lanh bằng nhựa đã qua sử dụng; 01 ví da màu đen, 01 xe mô tô nhãn hiệu hiệu Yamaha loại xe Sirius biển kiểm soát 98K1-5129; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và số tiền 1.462.000 đồng; Thu giữ của Lưu Văn V số tiền 40.000 đồng và 01 điện thoại di động.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở và vùng phụ cận đối với Liễu Văn B tại thôn N xã H, huyện L. Kết quả:
- + Thu giữ trên tủ trong phòng ngủ của vợ chồng Liễu Văn B 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ bên trong chứa 04(bốn) quả thực vật đã khô, nghi là quả thuốc phiện được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “KX1”.
- + Thu giữ trên giường trong phòng chứa đồ, cạnh phòng ngủ của vợ chồng Liễu Văn B 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, có đường viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX2”
- + Thu giữ phía dưới ngăn bàn học trong phòng chứa đồ gồm 01(một) cân điện tử màu đen có nắp đậy không có nhãn hiệu, mở kiểm tra bên trong mặt cân thấy bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Chiếc cân điện tử được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX3” cân còn hoạt động.
- + Thu giữ tại ngăn bàn học trong phòng chứa đồ cạnh phòng ngủ của vợ chồng Liễu Văn B gồm 02(hai) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa có đường viền màu xanh bên trong đều có bán dính chất màu đỏ nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX4”
- + Thu giữ trong phòng chứa đồ 01(một) cuộn giấy bạc đã qua sử dụng”.
Ngày 16/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp số 68/LKX-CSMT đối với Lưu Văn V tại thôn T, xã H huyện L, Kết quả:
- + Thu giữ trên giường ngủ tại phòng ngủ phía ngoài sát cửa ra vào chỗ ở của Lưu Văn V gồm 01 túi nilon được hàn kín bên trong có 01 gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc bên trong gói giấy bạc đều có hai mặt màu hồng đỏ nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX5”
- + Thu giữ bên trong ngăn tủ bên phải (tủ thờ) trong phòng khách gồm 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “KX6”.
Ngày 16/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định Trưng cầu giám định chất ma túy đối với số tang vật đã thu giữ được niêm phong trong các bì thư ký hiệu “QT1, QT2, QT6, QT4, KX1, KX2, KX3, KX4, KX5, KX6”. Tại bản kết luận giám định số 1345/KL-KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- "5.1 Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT1” được niêm phong, gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc (bên ngoài là 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ) đều là ma túy, loại Heroine tổng khối lượng 0,216 gam.
- 5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT2” được niêm phong, gửi giám định: Trong mẫu chất cục bột màu trắng được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) (bên ngoài là 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ) không tìm thấy thành phần chất ma túy, khối lượng của mẫu chất cục bột màu trắng là 0,077 gam.
- 5.3. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT4” được niêm phong, gửi giám định: Trong 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Vinataba”, màu vàng:
- - Chất bột màu trắng bám dính trong 05 (năm) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ đều là ma túy, loại Heroine (H), không xác định được khối lượng mẫu.
- - Chất bột màu hồng đỏ bám dính trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- 5.4. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT6” được niêm phong, gửi giám định: Chất cục bột màu trắng được dựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ là ma túy, loại Heroine (H), khối lượng 1,822 gam.
- 5.5. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KXI” được niêm phong, gửi giám định: 04 (bốn) quả thực vật khô màu nâu xám được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ dều là quả Thuốc phiện, tổng khối lượng 5,343 gam.
- 5.6. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX2” được niêm phong, gửi giám định: Trong mẫu chất cục bột màu trắng được dựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ không tìm thấy thành phần chất ma túy, khối lượng của mẫu chất cục bột màu trắng là 0,487 gam.
- 5.7. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX3” được niêm phong, gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) chiếc cân điện tử không có nhãn hiệu, màu đen, có nắp đậy là ma túy, loại Heroine (H), không xác định được khối lượng mẫu.
- 5.8. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX4” được niêm phong, gửi giám định:
- - Chất cục bột màu hồng đỏ được dựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu xanh là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,022 gam.
- - Chất bột màu hồng đỏ bám dính trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu xanh là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng mẫu.
- 5.9. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX5” được niêm phong, gửi giám định: Các mảnh viên nén màu hồng đỏ được đựng trong 01 (một) gói giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc (bên ngoài là 01 (một) túi ni lon màu trắng được hàn kín hai đầu) đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,047 gam.
- 5.10. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX6” được niêm phong, gửi giám định:
Trong mẫu chất bột màu trắng được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu đỏ không tìm thấy thành phần chất ma túy, khối lượng của mẫu chất bột màu trắng là 0,291 gam.
(Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Ngày 25/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định trưng cầu giám định ADN để phục vụ công tác điều tra. Tại bản kết luận giám định số HT423.33/PY-XNSH của V1 ngày 02/8/2023 kết luận: “Dấu vết trên túi nilon được niêm phong trong phong bì ghi : “Vỏ bao gói hoàn lại của “QT6” gửi giám định có sinh phẩm của người; có ADN nhiễm sắc thể thường trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Lưu Văn V, không trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể thường từ mẫu tóc của Liễu Văn B”.
Ngày 15/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định thực nghiệm điều tra theo lời khai của Lưu Văn V. Kết quả phù hợp lời khai và nội dung sự việc.
Trong các ngày 17/7/2023, 09/10/2023, 13/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định hiện trường tại thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 12/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Lưu Văn V nhận dạng qua bản ảnh. Kết quả Vòng nhận dạng tại bản ảnh số 06 là người đàn ông gặp tại ngôi nhà cạnh nghĩa địa thôn T, xã H, huyện L vào ngày 16/7/2023, tuy nhiên không được nhận đồ vật gì.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Liễu Văn B khai: Sáng ngày 16/7/2023 Ba đi một mình đến khu vực nghĩa trang thuộc địa phận thôn T, xã H, huyện L mua ma túy của một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi và hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng loại Heroine được 04 gói giấy bạc để trong túi nilon màu trắng Ba kiểm tra ma túy sau đó cất giấu trong người, mục đích là để sử dụng cho bản thân.
Đối với số ma túy, đồ vật thu giữ khi khám xét:
- + Đối với 04 quả thuốc phiện khô có tổng trọng lượng 5,343 gam Ba khai nhận đã xin của một người lạ mặt với mục đích để làm thuốc chữa bệnh;
- + Đối với 12 túi nilon có bám dính chất cục bột màu hồng đỏ là ma túy Methamphetamine (trong đó có 01 túi có khối lượng là 0,022gam) Ba khai nhận không nhớ mua thời gian nào và mua của người đàn ông lạ mặt không xác định được. Sau khi sử dụng xong thì Ba không nhớ đã để túi nilon này ở vị trí nào.
- + Đối với 01 cân điện tử có bám dính chất ma túy loại Heroine Ba khai nhận sử dụng cân này để cân thử ma túy khi mua ma túy về sử dụng.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Lưu Văn V khai nhận:
- + Đối với 06 túi nilon bám dính chất ma túy loại Heroine và Methamphetamine Vòng khai nhận đã nhặt những chiếc túi nilon này do biết chất bám dính trong túi này là ma túy sau đó cho vào bao thuốc lá, mục đích để sử dụng cá nhân. Bị can V không nhớ đã nhặt những túi nilon ở đâu vào thời gian nào.
- + Đối với gói giấy bạc chứa chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,047 gam Vòng khai nhận chiều ngày 15/7/2023 khi đi trên đường từ nhà Liễu Văn B về nhà V có nhìn biết là ma túy nên đã nhặt cất đi, mục đích sử dụng cho bản thân. Không nhớ rõ vị trí đã nhặt gói giấy bạc.
- + Đối với số ma túy sáng ngày 16/7/2023 V sử dụng, bị cáo không biết người đàn ông đó, không biết nguồn gốc ở đâu. Bị cáo chỉ mục đích sử dụng cho bản thân thỏa cơn nghiện.
- + Đối với số ma túy ném (vất) vào vườn vải của gia đình ông Đặng Văn B1 trong quá trình bắt quả tang, V khai nhận đó là số ma túy của Liễu Văn B đưa cho cầm. V không biết số ma túy đó ở đâu ra.
Qúa trình điều tra Lưu Văn V khai nhận số ma túy vất (ném) trong quá trình bắt quả tang là do Liễu Văn B đưa cho V. Liễu Văn B không thừa nhận đưa số ma túy cho Lưu Văn V, do đó ngày 11/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho đối chất giữa Liễu Văn B và Lưu Văn V. Kết quả Ba và V vẫn giữ nguyên lời khai.
Qúa trình điều tra Lưu Văn V khai nhận là trước đó V có được Liễu Văn B cho ma túy và sử dụng cá nhân. Tuy nhiên số ma túy V đã sử dụng hết, không thu được số ma túy cũng như không có căn cứ xác định trọng lượng của ma túy đó và cũng không xác định được mua bán ma túy của B và V mua cụ thể của người nào, tên tuổi, địa chỉ. Do đó không có căn cứ để xử lý theo quy định.
Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số 128/CT-VKS-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của những người này.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- Về hình phạt:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) phong bì dán kín ký hiệu “QT1”, “QT2”, "QT4", "QT6" do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 (một) xi lanh nhựa, đã qua sử dụng, bên trong không chứa gì; 01 (một) ví da màu nâu đen; 01(một) phong bì dán kín, ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT6” và ký hiệu “HT423.231" do V1 niêm phong, hoàn lại sau giám định; 08 (tám) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1”, “KX2”, “KX3”, “KX4”, “KX5”, “KX6”, “Vỏ bao gói hoàn lại của KX5” và “Vỏ bao gói hoàn lại của “KX6”, do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 cuộn giấy bạc đã qua sử dụng.
- - Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869904053119957, số IMEI 2: 869904053119940 và 1.462.000đồng cho Liễu Văn B; Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra được thông số của điện thoại, số tiền 40.000đồng cho Lưu Văn V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt: Liễu Văn B từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2023).
Xử phạt: Lưu Văn V từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2023).
Thực hiện lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[3] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 16/7/2023 tại thôn T, xã H, huyện L, Liễu Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,216 gam ma túy loại Heroine, 0,022 gam Methamphetamine; 04 quả thuốc phiện khô có tổng khối lượng là 5,343 gam; Lưu Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 1,822 gam ma túy loại Heroine và 0,047 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác của Công an huyện L phát hiện lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang cùng vật chứng
[4] Về áp dụng pháp luật hình sự đối với các bị cáo: Hành vi nêu trên của các bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
[5] Về tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Ma tuý là hiểm họa của loài người, làm sói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội. Ma tuý còn làm lây lan các loại dịch bệnh xã hội, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta và cá nhân loại trên thế giới đang kịch liệt đấu tranh để phòng chống các loại tội phạm này, các bị cáo vẫn liều lĩnh thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất chính. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Xét nhân thân của các bị cáo thấy:
Bị cáo Liễu Văn B là người có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội đánh bạc, nay đã được xóa án tích. Lưu Văn V là người có nhân thân tốt.
[7] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Các bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V không có tình tiết tăng nặng.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho các bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Liễu Văn B có bố tham gia cách mạng được tặng Huân Chương chiến sỹ giải phóng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Về mức hình phạt đối với các bị cáo: Xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm là công tác quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng điều 38 Bộ luật hình sự cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[10] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì các bị cáo không có mục đích thu lời bất chính, là lao động tự do nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[11] Qúa trình điều tra Lưu Văn V khai nhận là trước đó V có được Liễu Văn B cho ma túy và sử dụng cá nhân. Tuy nhiên số ma túy V đã sử dụng hết, không thu được số ma túy cũng như không có căn cứ xác định trọng lượng của ma túy đó và cũng không xác định được mua bán ma túy của B và V mua cụ thể của người nào, tên tuổi, địa chỉ. Do đó không có căn cứ để xử lý theo quy định.
Đối với anh Nguyễn Văn C2 sinh năm 1973 trú tại thôn T xã H, huyện L, có ngôi nhà nơi các đối tượng bị bắt quả tang ngày 16/7/2023. Quá trình điều tra xác định anh C2 không biết việc mua, bán hoặc tàng trữ ma túy của Liễu Văn B và Lưu Văn V. Anh không biết ai đến nhà mình vào sáng ngày 16/7/2023, do bận công việc cá nhân, do đó không có căn cứ để xử lý anh C2 theo quy định.
Ngày 03/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành tra cứu chủ sở hữu phương tiện. Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ kết quả xác định chiếc xe mang biển số 98K1-5129 chủ xe là Phạm Thị T, địa chỉ B, Hồ N, Lục Ngạn B. Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Năm 2018 chị T đã bán lại cho anh Phạm Trí H, sinh năm 1987 trú tại thôn H, xã H, huyện L. Sáng ngày 16/7/2023 anh H cho B mượn xe sử dụng đi lại, không biết việc đi mua ma túy, do đó không có căn cứ xử lý Phạm Trí H. Ngày 06/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra quyết định xử lý và trả lại chiếc xe mô tô cho anh Phạm Trí H là có căn cứ. .
[12] Về xử lý vật chứng: Đối với 04 (bốn) phong bì dán kín ký hiệu “QT1”, "QT2", "QT4”, “QT6” do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 (một) xi lanh nhựa, đã qua sử dụng, bên trong không chứa gì; 01 (một) ví da màu nâu đen; 01(một) phong bì dán kín, ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT6” và ký hiệu “HT423.231" do V1 niêm phong, hoàn lại sau giám định; 08 (tám) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1”, “KX2”, “KX3”, “KX4”, “KX5”, “KX6", “Vỏ bao gói hoàn lại của KX5” và “Vỏ bao gói hoàn lại của “KX6”, do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 (một) cuộn giấy bạc đã qua sử dụng là vật cấm và ít giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ;
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869904053119957, số IMEI 2: 869904053119940 và số tiền 1.462.000đồng của Liễu Văn B; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra được thông số của điện thoại đã qua sử dụng và số tiền 40.000đồng của Lưu Văn V không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[14] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 15, 58 và 38 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) phong bì dán kín ký hiệu “QT1”, “QT2”, "QT4”, “QT6" do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 (một) xi lanh nhựa, đã qua sử dụng, bên trong không chứa gì; 01 (một) ví da màu nâu đen; 01(một) phong bì dán kín, ký hiệu “Vỏ bao gói hoàn lại của QT6” và ký hiệu “HT423.231” do V1 niêm phong, hoàn lại sau giám định; 08 (tám) phong bì dán kín, ký hiệu “KX1”, “KX2”, “KX3”, “KX4”, “KX5”, “KX6”, “Vỏ bao gói hoàn lại của KX5” và “Vỏ bao gói hoàn lại của “KX6”, do Phòng K1 Công an tỉnh B niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 cuộn giấy bạc đã qua sử dụng.
- - Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869904053119957, số IMEI 2: 869904053119940 và 1.462.000đồng cho Liễu Văn B; Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra được thông số của điện thoại, số tiền 40.000đồng cho Lưu Văn V nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Liễu Văn B và Lưu Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Liễu Văn B 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2023).
Xử phạt: Lưu Văn V 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2023).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 135/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 135/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liễu Văn Ba, Lưu Văn Vòng - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
