TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 135/2024/DS-PT
Ngày 04/9/2024
V/v tranh chấp thừa kế.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.
Các Thẩm phán: Ông Lê Quý My và ông Hoàng Văn Giang.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 và ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2023/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp thừa kế.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2023/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 55/QĐPT-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Xóm K, xã Kh, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở: Tổ 14, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973;
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (văn bản uỷ quyền ngày 08/8/2024, ông C có mặt).
1.2. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Xóm K, xã Kh, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H: Ông Nguyễn Ngọc T thuộc Văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Bà Hà Thị T1, sinh năm 1959;
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
2.2. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
2.3. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
Người được bà T1, chị N, chị H2 ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (văn bản uỷ quyền ngày 20/8/2022, ông L có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hà Thị T1: Ông Nguyễn Văn T2, Tư vấn viên của Trung tâm T4;
Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường T, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1958; (Mẹ chị H, anh H1)
Địa chỉ: Xóm K, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).
3.2. Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh S, chức vụ Chủ tịch UBND huyện P (vắng mặt).
Người được ủy quyền: Bà Phạm Thanh T3 Chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P (bà T3 có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Văn H1 trình bày: Anh, chị khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế của bố anh, chị là ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1958 tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Mẹ chị là bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1958 đã kết hôn với ông Nguyễn Văn B năm 1982, không có đăng ký kết hôn. Bố mẹ chị sinh ra hai chị em gồm Nguyễn Thị H sinh năm 1983 và Nguyễn Văn H1 sinh năm 1985. Do hoàn cảnh kinh tế nên năm 1990, mẹ chị là bà Nguyễn Thị H3 phải đi làm ăn để kiếm tiền nuôi các con. Trong khoảng thời gian từ năm 1990, bố chị có chung sống với bà Hà Thị T1, sinh năm 1959; trú tại: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Trong thời gian này, bố của chị có thêm hai người con gái với bà T1 là: Chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H2. Trước khi chết, bố chị có số tài sản để lại gồm toàn bộ tài sản nhà đất như sau:
- - Một ngôi nhà 4 gian và công trình phụ chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm trên 400m² diện tích đất ở tại nông thôn tại thửa đất số 429 tờ bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đất trồng cây lâu năm có diện tích 592m² tại thửa số 429a bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đất nông nghiệp trồng lúa có diện tích là 2.965m² tại các thửa đất số 720 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 933, tờ bản đồ số 29; thửa đất số 552 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 679 tờ bản đồ số 25; thửa đất số 229 tờ bản đồ số 26, thửa đất số 330 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Lúc còn sống, bố chị có tuyên bố là chia tài sản trên cho chị với anh H1 tuy nhiên bố chị chết quá đột ngột nên chưa hoàn thiện thủ tục và không để lại di chúc. Sau khi bố chị chết, toàn bộ số tài sản trên hiện đang do bà Hà Thị T1, chị Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị H2 chiếm đoạt và sử dụng, sau đó chị với anh H1 đã nhiều lần yêu cầu bà T1 họp để chia thừa kế cho chị với anh H1, nhưng bà T1 không hợp tác. Chị đề nghị Tòa án xem xét việc chia thừa kế khối tài sản của bố chị để lại theo đúng quy định pháp luật.
Theo văn từ chối nhận di sản thừa kế ngày 06/8/2022 và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H3 khai: Bà là vợ của ông Nguyễn Văn B, đã chết năm 2012, người để lại di sản thừa kế. Khi ông Nguyễn Văn B còn sống có tạo lập được một phần khối tài sản như sau: Một ngôi nhà 4 gian và công trình phụ chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm trên 400m² diện tích đất ở tại nông thôn có thửa đất số 429 tờ bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Đất trồng cây lâu năm có diện tích 592m² tại thửa số 429a bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Đất nông nghiệp trồng lúa có diện tích là 2.965m² tại các thửa đất số 720 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 933, tờ bản đồ số 29; thửa đất số 552 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 679 tờ bản đồ số 25; thửa đất số 229 tờ bản đồ số 26, thửa đất số 330 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bà là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Văn Bình s năm 1958, đã chết ngày 24/02/2012 theo trích lục khai tử số 228/TLKT-BS do UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 17/09/2021. Địa chỉ thường trú trước khi chết ông Nguyễn Văn B tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi chết, ông B không để lại di chúc hoặc bất kỳ một nghĩa vụ tài sản nào mà người thừa kế của ông B phải thực hiện. Nay bà từ chối nhận toàn bộ phần di sản thừa kế mà bà được nhận từ ông Nguyễn Văn B để lại nêu trên.
Đồng bị đơn khai:
Bà Hà Thị T1 trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Bình s năm 1958, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Bà và ông B chung sống với nhau và sinh được 2 người con gái: Chị Nguyễn Thị N sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1993. Từ khi kết hôn vào năm 1990, bà ở trên thửa đất của ông Nguyễn Văn B là thửa đất số 429 tờ bản đồ số 30. Trong quá trình chung sống và lao động, vợ chồng bà có số tài sản gồm: Một ngôi nhà 04 gian, nhà bếp, công trình phụ, chuồng nuôi gia súc trên diện tích 400m² đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 429, tờ bản đồ số 30 xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; đất trồng cây lâu năm có diện tích 592m² tại thửa đất 429a tờ bản đồ số 30 tại xã T; Đất nông nghiệp trồng lúa có diện tích là 2.965m² tại các thửa đất số 720 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 933, tờ bản đồ số 29; thửa đất số 552 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 679 tờ bản đồ số 25; thửa đất số 229 tờ bản đồ số 26, thửa đất số 330 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Lúc còn sống ông B không bao giờ nhắc đến con riêng, cũng không bao giờ có người con nào về nhận bố. Trong khoảng thời gian từ 2010 - 2012 ông B có ủy quyền cho bà về quyền sử dụng đất. Do gia đình khó khăn, ông B lại bị bệnh nên gia đình bà phải thế chấp sổ đỏ vay Ngân hàng để chữa bệnh cho ông B. Bà và các con chăm sóc tận tình nhưng do bệnh nặng nên ông B đã qua đời vào năm 2012. Trước khi mất ông B có bảo bà chia đất và tài sản cho 2 con gái là chị Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị H2. Bà đã làm theo ý nguyện của ông B chia đất ra làm ba phần, bà một phần, chị N, chị H2 mỗi người một phần và đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ba người, không ngờ bây giờ lại có người xưng là con gái, con trai của ông B với bà vợ trước của ông B về đòi chia tài sản là đất của ông B. Vì vậy, bà không đồng ý chia tài sản nhà đất cho chị H và anh H1. Việc anh H1 và chị H nói là ông B tuyên bố chia tài sản cho anh chị là không đúng sự thật.
Chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị là con của ông Nguyễn Văn B và bà Hà Thị T1. Chị và em gái Nguyễn Thị Hồng s1 ra và lớn lên trên thửa đất số 429 tờ bản đồ số 30; tại xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và sức khỏe, năm 2010 bố chị bị bệnh tim đến năm 2012, do tuổi cao nên bố chị qua đời, do hiểu biết hạn hẹp nên không có di chúc. Trước khi bố chị chết có bảo mẹ chị chia tài sản hiện có cho chị và chị H2. Trước khi bố chị chết tài sản nhà chị hiện có: Một ngôi nhà 04 gian và công trình phụ chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm trên 400m² diện tích đất ở tại nông thôn thuộc thửa đất số 429 tờ bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đất trồng cây lâu năm có diện tích 592m² tại thửa số 429a bản đồ số 30 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Đất nông nghiệp trồng lúa có diện tích là 2.965m² tại các thửa đất số 720 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 933, tờ bản đồ số 29; thửa đất số 552 tờ bản đồ số 30; thửa đất số 679 tờ bản đồ số 25; thửa đất số 229 tờ bản đồ số 26, thửa đất số 330 tờ bản đồ số 26 tại xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Lúc còn sống bố chị nói sẽ chia tài sản cho chị và chị H2, trong những năm chị ở với bố mẹ, chưa bao giờ thấy ông nhắc đến việc chị có chị gái hay anh trai nào ngoài người em gái Nguyễn Thị H2, đồng thời chưa một lần nào có người đến nhà chị xưng là con riêng của ông B. Lúc bố chị ốm nằm viện cũng không có ai đến hỏi thăm, sau khi bố chị chết gia đình chị lại nhận được đơn khởi kiện đòi chia tài sản của bố chị. Do người tự xưng là con của bố chị đòi quyền lợi trong khi gia đình chị không biết người con riêng của bố chị tồn tại bao giờ. Từ khi sinh ra cả gia đình chị sống trên mảnh đất mang tên ông Nguyễn Văn B, đến thời điểm hiện tại cũng vậy và được mọi người công nhận hợp pháp. Vậy nên chị không đồng ý chia tài sản trong vụ tranh chấp thừa kế cho chị H và anh H1.
Chị Nguyễn Thị H2 trình bày: Chị đồng quan điểm với bà T1 là mẹ chị và chị N là chị gái của chị.
Tòa án cấp sơ thẩm đã thẩm định, định giá tài sản đối với các di sản đang tranh chấp giữa các đương sự, cụ thể:
- Tài sản là đất gồm:
- - Thửa đất số 429, tờ bản đồ số 30, diện tích 400m², loại đất ở tại nông thôn
- - Thửa 429a, tờ bản đồ số 30 loại đất trồng cây lâu năm 592m²
- - Thửa đất số 933, tờ bản đồ số 29, diện tích 207 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 552, tờ bản đồ số 30, diện tích 268 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 720, tờ bản đồ số 30, diện tích 942 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 559, tờ bản đồ số 25, diện tích 420 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 679, tờ bản đồ số 25, diện tích 248 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 229, tờ bản đồ số 26, diện tích 520 m², loại đất trồng lúa.
- - Thửa đất số 330, tờ bản đồ số 26, diện tích 360 m², loại đất trồng lúa.
- Tài sản trên đất gồm:
- - Nhà ở chính bốn gian lợp ngói mũi, xây năm 2002, diện tích 63,9m².
- - Nhà bếp hai gian lợp ngói Proximang, xây năm 2021, diện tích 22m².
- - Mái vẩy cạnh bếp lợp ngói P, xây năm 2021, diện tích 26,8m².
- - Mái vẩy chuồng lợn, xây năm 2002, diện tích 15,1m².
- - Chuồng nuôi trâu, bò, lợn cạnh nhà chính mái lợp Proximang, xây năm 2021, diện tích 46,9m².
- - 03 cây hồng xiêm; 05 cây ổi; 10 cây bưởi; 02 cây vú sữa; 04 cây sấu; 01 cây cóc; 02 cây táo; 02 cây mít; 01 cây xoài; 01 khóm măng mai; 03 khóm chuối mỗi khóm 10 cây; 01 cây nhãn.
Kết quả định giá tổng toàn bộ tài sản gồm đất, tài sản trên đất đang có tranh chấp là 871.603.764đ.
Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Văn H1.
Với nội dung nêu trên, tại bản án sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 khoản 1 Điều 147, 65, 166 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609, 611; 613, 614, 620, 623, 649, 650; 651; Điều 468 của Bộ luật Dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Văn H1 về việc “Chia tài sản thừa kế” đối với bà Hà Thị T1, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị H2.
- Buộc bà Hà Thị T1, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị H2 phải có trách nhiệm chia phần di sản của ông Nguyễn văn B1 để lại như sau:
1.1. Phần của chị Nguyễn Thị Kim H được chia:
- - 80m² đất thổ cư tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 118,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30, bản đồ địa chính xã T, huyện P cùng các cây ăn quả trên phần đất được chia. Tại vị trí số (IV) trên sơ đồ; Chị H phải có trách nhiệm trả cho bà T1 số tiền được sử dụng ½ chuồng trại chăn nuôi là 53.182.072₫.
- - 420m² loại đất trồng lúa tại thửa đất số 347, tờ bản đồ số 30, bản đồ địa chính xã T, huyện P, đã được đo vẽ chỉnh lý năm 2019.
1.2. Phần của anh Nguyễn Văn H1 được chia:
- - 80m² đất thổ cư tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 118,4m² tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30, bản đồ địa chính xã T, huyện P; ½ gian chuồng trại chăn nuôi cùng các cây ăn quả trên phần đất được chia. Tại vị trí số (V) trên sơ đồ; Anh H1 phải có trách nhiệm trả cho bà T1 số tiền được sử dụng ½ chuồng trại chăn nuôi là 53.182.072₫.
- - 268m² đất trồng lúa tại thửa đất số 552, tờ bản đồ số 30 bản đồ địa chính xã T, huyện P. Đất trồng lúa đã được đo vẽ chỉnh lý năm 2019.
1.3. Phần của bà Hà Thị T1 :
- - 80m² đất thổ cư tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 118,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 1/3 gian nhà cấp bốn là di sản của ông B1 để lại cùng toàn bộ nhà bếp, công trình phụ cùng các cây ăn quả trên phần đất được chia. Tại vị trí số (I) trên sơ đồ.
- - 942m² tại thửa đất số 1135, tờ bản đồ số 30; 360m² tại thửa đất số 896 tờ bản đồ số 25. Loại đất trồng lúa đã được đo vẽ chỉnh lý năm 2019.
- - Giao cho bà T1 quản lý, sử dụng số tiền 103.364.144đ do chị H, anh H1 bồi thường tiền chuồng lợn, chuồng gà.
1.4. Phần của chị Nguyễn Thị N:
- - 80m² đất thổ cư tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 118,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30, bản đồ địa chính xã T, huyện P; 1/3 gian nhà cấp bốn là di sản của ông B1 để lại cùng các cây ăn quả trên phần đất được chia. Tại vị trí số (II) trên sơ đồ.
- - 207m² tại thửa đất số 1159, tờ bản đồ số 30; 248m² tại thửa đất số 482 tờ bản đồ số 30 bản đồ địa chính xã T. Loại đất trồng lúa đã được đo vẽ chỉnh lý năm 2019.
1.5. Phần của chị Nguyễn Thị H2:
- - 80m² đất thổ cư tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 118,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 37, tờ bản đồ số 30; 1/3 gian nhà cấp bốn là di sản của ông B1 để lại cùng các cây ăn quả trên phần đất được chia. Tại vị trí số (III) trên sơ đồ.
- - 520m² tại thửa đất số 740, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T, huyện P. Loại đất trồng lúa đã được đo vẽ chỉnh lý năm 2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/12/2023 bà T1, chị H2, chị N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm bà T1, chị H2, chị N thay đổi nội dung kháng cáo: Chỉ kháng cáo chia thừa kế đối với thửa đất số 429 và số 429a. Các thửa đất lúa giữ nguyên như cấp sơ thẩm đã chia. Bà T1 đề nghị bà được chia 1/2 khối di sản đối với thửa đất số 429 và số 429a, còn ½ khối di sản còn lại chia cho các hàng thừa kế và chia cho bà một phần công duy trì, tôn tạo thửa đất số 429 và số 429a.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của bà T1, chị N, chị H2 theo hướng bà T1 phải được hưởng ½ trong khối tài sản chung với ông B1, mặt khác án sơ thẩm khi chia đất nhưng không có các điểm mốc nên khó cho việc thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1]. Xét yêu cầu chia di sản thừa kế của chị H, anh H1 và kháng cáo của bà T1, chị H2, chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Năm 1982 bà Nguyễn Thị H3 về nhà ông Nguyễn Văn B chung sống nhưng không đăng ký kết hôn và có với ông B 02 (hai) người con chung là chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983; anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985. Đến cuối năm 1989 bà H3 cùng hai con bỏ ông B đi nơi khác sinh sống. Đầu năm 1990 ông B đã đón bà Hà Thị T1, sinh năm 1959 về chung sống như vợ chồng với ông B nhưng cũng không đăng ký kết hôn và sinh được hai người con chung gồm chị Nguyễn Thị N sinh năm 1991, chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1993 là đúng thực tế đều được các bên thừa nhận. Tháng 02/2012, ông Nguyễn Văn B chết không để lại di chúc. Tháng 4/2014 bà Hà Thị T1 đã tách các thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông (bà) Nguyễn Văn B đã được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2002 để tặng cho chị N, chị H2 và phần còn lại là của bà T1.
[2]. Về việc chị H, anh H1 yêu cầu bà T1, chị N, chị H2 phải chia di sản thừa kế của ông B để lại. Hội đồng xét xử nhận thấy: Năm 1982 ông Nguyễn Văn B chung sống với bà Nguyễn Thị H3 không đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị quyết số 35 của Quốc hội hướng dẫn thì nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 dù không đăng ký vẫn được pháp luật coi là vợ chồng. Trường hợp nam nữ sống chung với nhau từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 mà chưa đăng ký thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội thì phải có nghiã vụ đăng ký kết hôn từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003. Nếu không đăng ký kết hôn thì không công nhận là vợ chồng. Như vậy đối với bà H3 được coi là hôn nhân thực tế và được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên sau khi về chung sống với ông B từ năm 1982 đến năm 1989 thì bà H3 đã bỏ đi khỏi nhà ông B thì quan hệ giữa bà H3 và ông B đã chấm dứt hôn nhân thực tế. Năm 1990 bà T1 chung sống với ông B đến năm 2012 khi ông B cũng không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
[3]. Về di sản của ông B để lại có phải là tài sản chung của ông B với bà H3, bà T1 hay không thì thấy rằng: Cả bà H3 và bà T1 đều công nhận toàn bộ di sản của ông B chết đi để lại có nguồn gốc của bố mẹ ông B cho ông B khi bà H3 về sống với ông B cũng như bà T1 về sống với ông B thì cả hai bà không mua của ai thửa đất cũng như thửa ruộng nào cả. Chỉ khác nay hai bà đều yêu cầu được chia di sản thừa kế của ông B để lại theo pháp luật. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm bà H3 có đơn từ chối nhận di sản thừa kế (BL 43) nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét.
[4]. Căn cứ vào Nghị quyết số 35 của Quốc hội nêu trên thì bà H3 và ông B đã chấm dứt hôn nhân thực tế. Bà T1 và ông B không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Như vậy cả bà H3 và bà T1 đều không được hưởng di sản thừa kế của ông T1 để lại.
[5]. Về tài sản chung của bà H3 với ông B cũng như bà T1 với ông B thì thấy rằng: Năm 1982 bà H3 về sống chung với ông B đến năm 1989 bà H3 đã bỏ đi khỏi nhà ông B. Năm 1990 bà T1 sống chung với ông B đến khi ông B chết năm 2012. Quá trình chung sống vẫn trên sơ sở tài sản của bố mẹ ông B cho ông B đến năm 2002 ông B đã làm thủ tục để cấp quyền sử dụng đất và ông B cũng xác định đây là tài sản chung của ông B và bà T1 được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B được cấp năm 2002. UBND huyện P đã cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Văn B. Các sổ hộ khẩu qua các thời kỳ đều thể hiện gia đình ông B chỉ có 04 người gồm: Ông B, bà T1, chị N, chị H2. Như vậy tài sản chung của ông B là ½ và bà T1 là ½. Toà cấp sơ thẩm chia cho bà T1 một phần tài sản tương đương với phần tài sản mà chị H, anh H1, chị N, chị H2 được thừa hưởng của ông B là không đúng như đã phân tích nêu trên. Bà T1, chị N, chị H2 kháng cáo là có căn cứ nên cần được chấp nhận, tuy nhiên nếu chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà T1, chị N, chị H2 thì thấy rằng: Thửa đất số 429 và 429a tuy hai thửa nhưng chung một mảnh đất có chiều rộng bám mặt đường là 25,40m, nếu chia ½ cho bà T1 thì còn lại 12,7m mà phải chia cho 04 kỷ phần cộng với 01 kỷ phần cho bà T1 do công tôn tạo, duy trì thửa đất cho đến nay thì mỗi người chỉ có 2,54m mặt đường thì quá hẹp, do vậy bà T1 cũng nhất trí chia theo sơ đồ phân chia đất do cơ quan đo đạc đo tháng 5/2024. Nếu phân chia như vậy thì bà T1 cũng không ảnh hưởng tới nhà mà bà đang ở cũng như các công trình phụ mà bà và ông B đã tạo dựng trong thời gian sống chung với ông B thì cũng là hợp lý, hợp tình. Còn các tài sản như một số cây ổi, mít, chanh... không có giá trị cao thì bà T1 cũng nhất trí tài sản ở trên đất của ai được chia thì người đó được sở hữu cũng là phù hợp.
[6]. Tại phiên toà Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H cho rằng Toà án cấp sơ thẩm có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì bà H3 không được ký vào văn bản từ chối nhận di sản thừa kế, do vậy đề nghị huỷ bản án sơ thẩm là không có căn cứ như đã phân tích nêu trên.
[7]. Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà T1 sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[8]. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà T1, chị N, chị H2 sửa bản án sơ thẩm là phù hợp có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208, 219, 651; của Bộ luật Dân sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Hà Thị T1, chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị H2, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H và anh Nguyễn Văn H1 về việc “Chia di sản thừa kế” đối với di sản của ông Nguyễn Văn B.
- Chị Nguyễn Thị Kim H được chia:
- - 114,2m² đất trong đó có 50m² đất thổ cư và 64,2m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 429 và 429a (nay là thửa số 37, tờ bản đồ số 30) cùng các cây cối (nếu có) trên phần đất được chia. Theo sơ đồ 1, 2, D, E, F, A, 1.
- - 420m² loại đất trồng lúa tại thửa đất số 347, tờ bản đồ số 30, bản đồ địa chính xã T, huyện P, đã được đo đạc chỉnh lý năm 2019.
- Anh Nguyễn Văn H1 được chia:
- - 103,4m² đất trong đó có 50m² đất thổ cư và 53,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 429 và 429a (nay là thửa số 37, tờ bản đồ số 30) cùng các cây cối (nếu có) trên phần đất được chia. Theo sơ đồ 1, 2, 3, 4, 1.
- - 268m² đất trồng lúa tại thửa đất số 552, tờ bản đồ số 30 bản đồ địa chính xã T, huyện P. Loại đất trồng lúa đã được đo đạc chỉnh lý năm 2019.
- Chị Nguyễn Thị N được chia:
- - 103,4m² đất trong đó có 50m² đất thổ cư và 53,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 429 và 429a (nay là thửa số 37, tờ bản đồ số 30) cùng các cây cối (nếu có) trên phần đất được chia. Theo sơ đồ 3, 4, 5, 6, 3.
- - 207m² tại thửa đất số 1159, tờ bản đồ số 30 và 248m² tại thửa đất số 482 tờ bản đồ số 30 bản đồ địa chính xã T. Loại đất trồng lúa đã được đo đạc chỉnh lý năm 2019.
- Chị Nguyễn Thị H2 được chia:
- - 103,4m² đất trong đó có 50m² đất thổ cư và 53,4m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 429 và 429a (nay là thửa số 37, tờ bản đồ số 30) cùng các cây cối (nếu có) trên phần đất được chia. Theo sơ đồ 5, 6, C, B, 5.
- - 520m² tại thửa đất số 740, tờ bản đồ số 25, bản đồ địa chính xã T, huyện P. Loại đất trồng lúa đã được đo đạc chỉnh lý năm 2019.
- Bà Hà Thị T1 được hưởng tài sản chung với ông B như sau:
- - 550,5m² đất trong đó có 200m² đất thổ cư và 350,5m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 429 và 429a (nay là thửa số 37, tờ bản đồ số 30) cùng các cây cối (nếu có) trên phần đất được hưởng. Theo sơ đồ A, B, C, P, N, M, L, K, I, H, G, A.
- - 942m² tại thửa đất số 1135, tờ bản đồ số 30 và 360m² tại thửa đất số 896 tờ bản đồ số 25. Loại đất trồng lúa đã được đo đạc chỉnh lý năm 2019.
Các diện tích được chia có sơ đồ kèm theo bản án. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án có hiệu lực pháp luật.
6. Về chi phí tố tụng: Chị H đã tạm ứng 13.000.000đ nay cần chia đều cho chị H, anh H1, bà T1, chị N, chị H2 mỗi người chịu 2.600.000đ. Buộc anh H1, bà T1, chị N, chị H2 mỗi người trả cho chị H 2.600.000đ (hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
7. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà T1, chị H2 vì bà T1 thuộc người cao tuổi, chị H2 thuộc diện hộ cận nghèo được UBND xã T xác nhận.
- - Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 4.554.000đ (bốn triệu, năm trăm năm mươi tư nghìn đồng) án phí đối với tài sản mà mình được chia. Được trừ đi 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002735 ngày 25/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- - Anh Nguyễn Văn H1 phải chịu 4.028.000đ (bốn triệu, không trăm hai mươi tám nghìn đồng) án phí đối với tài sản mà mình được chia. Được trừ đi 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002735 ngày 25/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- - Chị Nguyễn Thị N phải chịu 4.636.000đ (bốn triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng) án phí đối với tài sản mà mình được chia.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Quế |
Bản án số 135/2024/DS-PT ngày 04/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp thừa kế
- Số bản án: 135/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Huệ khởi kiện yêu cầu chi di sản thừa kế của bố để lại
