| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 135/2025/HS-PT | |
| Ngày: 27/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành
Ông Hoàng Nhật Tân
- Thư ký phiên toà:
Ông Nguyễn Quang Hoà – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2025/TLPT-HS, ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HSST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưngc, TP Hà Nội. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 32/QĐXXPT- HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Bá T, sinh năm: 1997; HKTT và nơi ở: Xóm C K, Huyện Đ, Thành Phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nguyên trưởng bưu cục thuộc công ty cổ phần D; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá N và con bà: Hoàng Thị N1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.
- Nguyễn Duy H, sinh năm: 1997; HKTT và nơi ở: Xóm N, Huyện Đ, Thành Phố Hà Nội; Nghề nghiệp: nhân viên kho bưu cục thuộc công ty cổ phần D; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy M và con bà: Nguyễn Thị H1; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại.
Có mặt tại phiên tòa.
Có mặt tại phiên tòa;
- Người bị hại không có kháng cáo và không được Tòa án triệu tập: Công ty cổ phần D;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không được tòa án triệu tập: Công ty TNHH S;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty CP D (Gọi tắt là Công ty G; MST: 0311907295; Địa chỉ trụ sở: Số D X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ văn phòng tại Hà Nội: Tầng I, tòa nhà M, số B T, phường N, quận Đ, Thành phố Hà Nội) là công ty hoạt động trong lĩnh vực bưu chính, logistics, cụ thể là giao hàng thương mại điện tử, bưu chính, chuyển phát. Công ty liên tiếp nhận được khiếu nại từ người gửi, về các đơn hàng bị tráo sản phẩm bên trong. Lộ trình các đơn hàng trên đều được giao hàng tại Bưu cục E Lãng Y thuộc Công ty G - Địa chỉ: Số E L, phường T, Q . H, TP . Hà Nội. Công ty đã ủy quyền cho anh Trần Cao K trợ lý giám đốc vùng (SN: 1995; Nơi ở: số H ngõ C, đường M, quận N, Hà Nội) giải quyết.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, xác định:
Nguyễn Bá T làm việc tại Bưu cục E Lãng Y thuộc Công ty G - Địa chỉ: Số E L, phường T, Q.H, TP . Hà Nội, từ ngày 16/6/2023. Tuyển được bổ nhiệm giữ chức vụ T1 bưu cục theo thư bổ nhiệm của Công ty G. Công việc của T là quản lý và sắp xếp công việc cho nhân viên, quản lý đơn hàng về kho, chịu trách nhiệm thu tiền COD gửi lại cho Công ty G, chịu trách nhiệm về hàng hoá trong kho của Bưu cục E L, phường T, quận H, TP ..
Nguyễn Duy H làm việc tại Bưu cục E Lãng Y thuộc Công ty G Địa chỉ: Số E L, phường T, Q.H, TP . Hà Nội, từ tháng 9/2023. H được phân công nhiệm vụ làm nhân viên hỗ trợ kho, cụ thể là: Xuất xe, bốc hàng, hỗ trợ nhân viên xử lý đóng tải hàng.
Trong quá trình làm việc tại đây, T bị phạt truy thu trừ hết tiền lương dẫn đến việc không có tiền để chi tiêu cá nhân. Do vậy, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty bằng cách lợi dụng sơ hở trong Quy trình giao hàng của Công ty nếu có đơn hàng có giá trị cao, khách từ chối nhận hàng quá 03 lần phải trả lại cho người bán thì T sẽ yêu cầu nhân viên bưu cục mang đơn hàng này ra ngoài bưu cục (Để tránh camera giám sát) đưa cho T, sau đó T sẽ tráo hàng thật bằng các vật có kích thước tương tự. Sau khi tráo hàng xong, T2 đưa lại đơn hàng cho nhân viên bưu cục mang vê kho của bưu cục để chờ hoàn trả lại cho người bán, còn hàng lấy được, T sẽ bán cho người khác để lấy tiền tiêu sài.
Khoảng đầu tháng 09/2023, T bàn bạc với Nguyễn Duy H là sẽ dùng cách thức trên để chiếm đoạt tài sản của Công ty G, nếu T và H lấy được đơn hàng nào thì sẽ tự bán và tự lấy tiền chi tiêu cá nhân, H đồng ý. Cụ thể:
- Vụ thứ 1: Ngày 06/9/2023, T gọi điện cho Đặng Đức H2 mang 01 đơn hàng mã G8F6V4CL bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax (dung lượng bộ nhớ: 128Gb) để đưa cho T tại khu vực trước cửa quán cơm (Địa chỉ: Số H B, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội). Sau đó T mang đơn hàng trên về nhà (địa chỉ: Xóm C, thôn B, xã K, huyện Đ, Thành phố Hà Nội) và lấy chiếc điện thoại di động trên ra khỏi hộp cattong sau đó đánh tráo bằng gạch rồi cuốn băng dính vào như cũ. Sau đó, T quay lại trước cửa quán cơm đưa đơn hàng trên cho H2 và bảo H2 mang về Bưu cục. Sau khi lấy được chiếc điện thoại di động trên, T đã bán cho một người trên mạng xã hội Facebook (hiện không xác định được) với giá 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
- Vụ thứ 2: Ngày 12/9/2023, H gọi điện cho H2 bảo lấy 03 đơn hàng đưa mang đến khu vực đối diện với địa chỉ Số B L, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội cho H. Được sự đồng ý của T, H2 đã đem đơn hàng trên giao cho H cụ thể:
- + 01 đơn hàng mã G8FARU7H bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max (dung lượng bộ nhớ: 128GB);
- + 01 đơn hàng mã G8FARUGK bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Samsung S23 ultra và 01 chiếc đồng hồ S1,
- +01 đơn hàng mã G8FHEBYC bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro (dung lượng bộ nhớ: 128Gb).
- Vụ thứ 3: khoảng tháng 09/2023, T tự lây 01 đơn hàng mã G8LW6944 bên trong có 01 chiếc điện thoại di động S1 (dung lượng bộ nhớ 512 Gb) mang về nhà, T2 lấy chiếc điện thoại di động trên ra khỏi hộp cattong và đánh tráo bằng gạch rồi cuốn băng dính như cũ. Sau đó, T mang đơn hàng đã bị đánh tráo về kho của Bưu cục. Sau khi lấy được chiếc điện thoại di động, T đã bán cho một người trên mạng xã hội Facebook (hiện không xác định được) với giá 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
- Vụ thứ 4: Ngày 17/9/2023, H gọi điện thoại và bảo H2 lấy 01 đơn hàng mã G8FEWEUK bên trong có 01 chiếc máy tính xách tay Apple Macbook A để mang đến khu vực đối diện địa chỉ: Số B L, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội cho H. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H tiếp tục gọi điện thoại và bảo H2 bảo lấy 01 đơn hàng mã G8FMBCML bên trong có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 (dung lượng bộ nhớ: 128GB) và mang đến khu vực đối diện địa chỉ: Số B L, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội cho H. Cả hai lần, H2 đều thông báo cho T và T động ý. Sau khi H đã đánh tráo các sản phẩm trong 02 đơn hàng trên và đưa lại cho H2 để H2 mang về kho của Bưu cục. Đến tối cùng ngày, tại nhà H, H đã đưa cho T chiếc điện thoại di động Iphone 13. T đã bán cho một người trên mạng xã hội Facebook (hiện không xác định được) với giá 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), còn H đã bán 01 máy tính xách tay Apple Macbook A cho một người trên mạng xã hội Facebook với giá 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có yêu cầu định giá tài sản.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản trong tô tụng hình sự số 14/KL-HĐ ĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong hình sự quận H, kết luận như sau:
- 01 chiếc điện thoại Apple Iphone 13 128GB S/N FOY3H6RFQ4 (Tình trạng mới 100%) là 16.390.000 đồng (Mười sáu triệu, ba trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc máy tính xách tay Apple Macbook A (2022) M2 chip, 13.6 inches, 8GB, 256GB SSD SN QGXCFY4F (Tình trạng mới 100%) là 26.790.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại Apple iphone 14 Pro Max 128 GB S/N F2YHWLYJ3C (Tình trạng mới 100%) là 27.090.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại Samsung S23 Ultra 8 GB/256GB (Tình trạng mới 100%) + 01 chiếc đồng hồ Galaxy (Watch E 4 C) + Dou Charge S/N 85661864 (Tình trạng mới 100%) là 25.790.000 đồng (Hai lăm triệu, bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại Apple iphone 14 Pro 128GB S/N C41GLX9XDN (Tình trạng mới 100%) là 23.990.000 đồng (Hai ba triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại Apple iphone 14 Pro max 128GB S/N HM47QGG61W (Tình trạng mới 100%) là 27.090.000 đồng (Hai bảy triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại Apple iphone 14 Pro max 256GB S/N F3DW2JTQQJ (Tình trạng mới 100%) là 29.690.000 đồng (Hai chín triệu, sáu trăm chín mươi nghìn đồng).
- 01 chiếc điện thoại S1 5 512GB S/N 350731691630186 (Tình trạng mới 100%) là 29.990.000 đồng (Hai chín triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng).
Như vậy T là T1 bưu cục và là người rủ H tham gia trong việc lấy tài sản, những lần H lấy, T đều biết. Do vậy T phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số tài sản đã chiếm đoạt của Công ty G là 177.130.000 đồng trong đó (H chịu trách nhiệm với trị giá tài sản trong hai ngày đã lấy là ngày 12/9/2023 và ngày 17/9/2023 với số tiền là 120.050.000 đồng).
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Bá T, Nguyễn Duy H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai: tổng số tiền T bán được tài sản là 50.000.000 đồng, tổng số tiền H bán được tài sản là 45.500.000 đồng. Số tiền sau khi bán được, T và H không chia cho ai, toàn bộ số tiền trên T và H đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết.
Tuyển nhận thức được trong thời gian giữ chức vụ Trưởng bưu cục, được giao quản lý tài sản của Công ty G cụ thể là các đơn hàng nhưng T đã lợi dụng sơ hở trong quy trình làm việc của Công ty G để cùng với H đánh tráo sản phẩm trong đơn hàng của công ty nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật. H nhận thức được trong thời gian làm việc tại bưu cục, lợi dụng sơ hở trong quy trình làm việc của Công ty G1, H bàn bạc với T đánh tráo sản phẩm trong đơn hàng của công ty để chiếm đoạt tài sản là hành vi vi phạm pháp luật.
Ngày 21/01/2024, T và H đã đã khắc phục toàn bộ số tiền 177.130.000 đồng cho Công ty G (trong đó T khắc phục số tiền 97.460.000 đồng; H đã khắc phục số tiền 79.670.000 đồng).
Đối với Đặng Đức H2, khai nhận: Các đơn hàng H2 mang ra khỏi kho của Bưu cục để đưa cho T và H đều theo sự chỉ đạo của T và H. Sau khi T và H đưa lại các đơn hàng đều còn nguyên vẹn niêm phong, vận đơn. Ngày 23/9/2023, H2 được thông báo là sản phẩm trong các đơn hàng trên bị đánh tráo bằng sản phẩm khác, H2 đã thông báo lại sự việc mình biết với Công ty G. Việc T2 và H đánh tráo sản phẩm trong các đơn hàng bằng sản phẩm khác thì H2 không biết. H2 không được hưởng lợi gì từ việc làm trên. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H2
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thông tin các khách hàng có địa chỉ nhận hàng liên quan đến những đơn hàng trên, kết quả:
- Xác minh người nhận có tên AN HY – Địa chỉ: Số E B; Người tên Mạnh T3 – Địa chỉ: Số A V, B; Người tên Hoàng H3 – Địa chỉ: H B,
- Cơ quan điều tra đã có biên bản xác minh, được Công an phường B cung cấp tại các địa chỉ trên không ai có tên tuổi như trên.
- Xác minh người tên Hoàng Xuân B; Địa chỉ: Số A H, phường P, quận H, TP . tại công an phường P xác định: Tại địa chỉ số A H, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội không có người tên Hoàng Xuân B sinh sống.
- Cơ quan điều tra đã làm việc với Phạm Thị Thu T4 (Sinh năm: 1988, địa chỉ: Số B T, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội) là người đặt mua 01 chiếc điện thoại Iphone 14 pro 128GB. Tại Cơ quan điều tra chị T4 khai chị có đặt mua chiếc điện thoại trên nhưng sau đó chị đã từ chối nhận hàng.
- Đối với những người mua điện thoại và máy tính của T và H3, do cả hai đều bán trên mạng xã hội (hiện không xác định được nhân thân, địa chỉ) nên Cơ điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.
Tại bản cáo trạng số 165/CT/VKS-HS ngày 12/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng thì bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H bị truy tố về tội tham ô tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, d, khoản 2 điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HSST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội đã xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H mỗi bị cáo 05 năm về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, d, khoản 2, Điều 353 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt, đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản. Giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo T, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo H. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T và chấp nhận kháng cáo của bị cáo H từ 4 năm 3 tháng đến 4 năm 6 tháng.
- Bị cáo Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1]. Về hình thức:
Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định và kháng cáo của bị cáo là hợp lệ về hình thức nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Về hành vi của bị cáo: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào lời khai của bị hại, căn cứ vào lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 06 tháng 9 năm 2023 đến ngày 17 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Bá T với chức vụ là Trưởng bưu cục (địa chỉ tại E L, Phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội) cùng thống nhất với Nguyễn Duy H là nhân viên hỗ trợ kho, lợi dụng chức vụ cũng như sơ hở trong quy trình giao hàng nhanh của Công ty G để T và H đánh tráo hàng thật bằng các vật có kích thước tương tự, sau đó bọc lại như cũ và tra về bưu cục, cụ thể:
- Vụ thứ 1: Ngày 06/9/2023, Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H đã có hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax (dung lượng bộ nhớ: 128Gb) theo đơn hàng mã G8F6V4CL, trị giá là 27.090.000 đồng.
- Vụ thứ 2: Ngày 12/9/2023, Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H đã có hành vi chiếm đoạt tài sản gồm:
- + 01 chiến điện thoại Apple Iphone 14Pro 128G trị giá 23.990.000 đồng.
- + 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax (dung lượng bộ nhớ: 128GB) trị giá 27.090.000 đồng.
- + 01 chiếc điện thoại Samsung S23 Ultra 8 GB/256GB (Tình trạng mới 100%) và 01 chiếc đồng hồ Galaxy (Watch 5/Watch 4 C) Dou Charge S/N 85661864 (Tình trạng mới 100%) là 25.790.000 đồng.
- Vụ thứ 3: Khoảng tháng 09/2023, Nguyễn Bá T 1 mình thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động S1 5 giá trị 29.990.000 đồng.
- Vụ thứ 4: Ngày 17/9/2023, Nguyễn Bá T và Nguyễn Duy H đã có hành vi chiếm đoạt tài sản gồm:
- + 01 chiếc máy tính xách tay Apple Macbook A trị giá 26.790.000 đồng. + 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 trị giá 16.390.000 đồng.
T và H là người có chức vụ, quyền hạn trong Công ty G có trách nhiệm quản lý tài sản của Công ty G nhưng đã lợi dụng trách nhiệm quản lý tài sản được giao, chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 177.130.000 đồng trong đó, H chịu trách nhiệm với trị giá tài sản trong hai ngày đã lấy là ngày 12/9/2023 và ngày 17/9/2023 với số tiền là 12.050.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Tham ô tài sản với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c, d, khoản 2, Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tòa án sơ thẩm xét xử là đúng hành vi phạm tội của các bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của hai bị cáo HĐXX thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của Công ty mà các bị cáo có nhiệm vụ quản lý và tài sản của các nhân người bị hại do đó cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là cần thiết.
Về nhân thân, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo thực hiện nhiều lần 01 hành vi phạm tội tuy nhiên đây là tình tiết định khung hình phạt nên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự; Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS;
Bị cáo T gia đình bị cáo có công với Nhà nước, bị cáo có giấy khen của UBND xã K có thành tích xuất sắc trong công tác quân sự địa phương xã K năm 2019; Bị cáo H là lao động chính trong gia đình có xác nhận của UBND xã K nên Tòa án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v, khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo T và khoản 2, Điều 51 đối với hai bị cáo, áp dụng Điều 54 BLHS cho các bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Tuy nhiên, HĐXX xem xét đến vai trò của các bị cáo trong vụ án, trong vụ án này, bị cáo T là người có chức vụ, rủ rê bị cáo H cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội, số tiền chiếm đoạt của bị cáo T lớn hơn bị cáo H nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt bị cáo Hưng bằng với bị cáo T là có phần chưa phù hợp, do hai bị cáo cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, giảm nhẹ cho bị cáo H 01 phần hình phạt và giữ nguyên mức hình phạt đã tuyên với bị cáo T.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo H được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 355, 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá T, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HSST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội như sau:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá T và bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tham ô tài sản".
- Áp dụng pháp luật và hình phạt:
- Áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Nguyễn Bá T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng: điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
- Xử phạt: Nguyễn Duy H 4 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Duy H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Mạnh Cẩm Yến |
Bản án số 135/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 135/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội tham ô tài sản
