TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 135/2025/HS-PT
Ngày 05 tháng 3 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Tô Ngọc |
| Ông Nguyễn Văn Minh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1088/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Ngọc T; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Ngọc T, (tên gọi khác: Mão) sinh 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công H sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974; vợ tên Võ Kim N sinh năm 1998 (đã ly hôn); có 02 người con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/3/2024 cho đến nay.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Cao Đ – thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
- Bị hại: Bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Phạm Thanh Đ1 – Đoàn Luật sư Thành phố H.
2
(Trong vụ án, còn có 05 bị cáo khác; các bị cáo khác, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 12 năm 2022, bị hại Trần Thị Thu T2, tham gia góp hụi do bà Trần Đặng Ánh N1 làm chủ hụi, bị hại T2 tham gia góp nhiều dây hụi, sau khi lĩnh hụi, không còn khả năng góp hụi chết. Đến ngày 26/8/2023, bị hại T2 ký nợ bằng giấy mượn tiền của bà N1 số tiền là 13,6 tỷ đồng, nhưng bị hại T2 không trả. Do biết được sự việc, bị cáo Phạm Ngọc T (bạn trai của bà N1) đã thuê bị cáo Nguyễn Hoàng P, Dương Công V đi đòi nợ bị hại T2 và thỏa thuận khi lấy được tiền sẽ chia đôi, bị cáo V rủ thêm bị cáo Trần Văn T3, Phạm Thanh S.
Đến sáng ngày 25/10/2023, bị cáo T hẹn bị cáo P, V, T3 uống cà phê tại xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh bàn bạc đòi nợ bị hại T2. Sau đó, bị cáo T chở bị cáo P, V, T3 đến nhà bị hại T2 nhưng không gặp bị hại T2 nên bỏ về. Đến tối ngày 25/10/2023, khi bị cáo P, V, T3 và Phạm Khắc H1 đến ăn nhậu tại quán (không tên) thuộc xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh, bị cáo P gọi điện cho T nói sẽ mua quan tài đặt trước nhà bị hại T2 nhằm mục đích uy hiếp tinh thần để đòi nợ, bị cáo P yêu cầu bị cáo T đưa tiền mua quan tài và chi phí đòi nợ là 50.000.000 đồng thì T đồng ý. Lúc này, bị cáo P bàn bạc với cả nhóm sẽ mua quan tài để đặt trước nhà bị hại T2, uy hiếp đòi nợ bị hại T2 số tiền 13,6 tỷ đồng, bị cáo V yêu cầu bị cáo H1 mua quan tài và thuê xe chở. Sau đó, bị cáo P và Văn hẹn gặp bị cáo T tại “quán dê” thuộc xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh lấy 24.000.000 đồng (Số tiền 24.000.000 đồng, chia cho P 8.000.000 đồng; V 7.700.000 đồng; H1 8.300.000 đồng).
Khoảng 00 giờ ngày 26/10/2023, bị cáo V thuê xe taxi (không rõ thông tin lai lịch của xe và tài xế) chở các bị cáo P, V, T3 và S đi đến trại hòm Bảy P1 tại xã B, huyện G gặp bị cáo H1. Tại đây, tất cả khiêng quan tài lên ô tô tải biển số 70C-177.89 của ông Mang Long P2, chủ trại hòm, bị cáo H1 điều khiển xe chở đi. Sau đó, các bị cáo P, V, T3, S lên xe taxi đi phía trước dẫn đường, bị cáo H1 chở quan tài chạy phía sau. Khi cách nhà bị hại T2 khoảng 01 km thì bị cáo P đi qua xe ô tô tải ngồi kế bên bị cáo H1, còn bị cáo T3, S đi qua ngồi phía sau thùng xe tải bên cạnh quan tài. Khi bị cáo H1 điều khiển xe đến nhà bị hại T2 thì bị cáo S cùng bị cáo T3 kéo quan tài ra, đẩy rớt xuống trước nhà và tất cả bỏ về.
Đến chiều ngày 26/10/2023, bị cáo T đưa tiếp cho bị cáo P số tiền 26.000.000 đồng (số tiền 26.000.0000 đồng chia cho P 13.000.000 đồng; Văn 13.000.000 đồng); các bị cáo P, V, T3, H1, S bỏ trốn. Bị hại T2 phát hiện quan tài để trước nhà nên đến Công an xã Đ, thị xã T tố cáo.
Ngày 16/11/2023, các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Phạm Khắc H1, Trần Văn T3 bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp; ngày 04/12/2023, bị cáo Dương Công V đến Công an thị xã T đầu thú. Riêng bị cáo Phạm Ngọc T và Phạm Thanh S bị bắt tạm giam.
3
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Dương Công V, Trần Văn T3, Phạm Khắc H1, Phạm Thanh S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo Phạm Ngọc T không thừa nhận hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSTN-P3 ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo: Phạm Ngọc T, Nguyễn Hoàng P, Dương Công V, Trần Văn T3, Phạm Khắc H1, Phạm Thanh S về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 170 điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 57; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/3/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 01/10/2024, bị cáo Phạm Ngọc T có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Ngọc T rút lại yêu cầu xác minh giọng nói trong đoạn ghi âm bị cáo đã cung cấp; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” chứ không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xử phạt bị cáo 07 năm tù là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo không có hành vi đe dọa đối với bị hại nên không cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
4
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Xuất phát từ việc muốn đòi tiền nợ cho bạn gái là Trần Đặng Ánh N1, bị cáo Phạm Ngọc T đã liên hệ với bị cáo Nguyễn Hoàng P để tìm cách đòi số tiền 13.600.000.000 đồng từ bị hại Trần Thị Thu T2. Thực hiện yêu cầu đòi nợ từ bị cáo T, Nguyễn Hoàng P đã rủ rê các bị cáo khác gồm Dương Công V, Trần Văn T3, Phạm Khắc H1, Phạm Văn S1 cùng tham gia. Sáng ngày 25/10/2023, Phạm Ngọc T chở bị cáo P, V, T3 đến nhà bị hại T2 để đòi nợ nhưng không gặp bị hại T2 nên cả nhóm bỏ về. Đến tối ngày 25/10/2023, P gọi điện cho T nói sẽ mua quan tài đặt trước nhà bị hại T2 nhằm mục đích uy hiếp tinh thần để đòi nợ, đồng thời bị cáo P yêu cầu bị cáo T đưa tiền mua quan tài và chi phí đòi nợ là 50.000.000 đồng; bị cáo T đồng ý, ứng trước cho bị cáo P 24.000.000 đồng để thực hiện. Sau đó, nhóm của bị cáo P, V, T3, H1, S1 đến trại hòm 7 Phụng thuộc xã B, huyện G mua quan tài chở đi; đến khoảng 00 giờ ngày 26/10/2024 các bị cáo chở quan tài đến bỏ trước nhà bị hại T2 và đi về. Chiều ngày 26/10/2023, bị cáo T đưa tiếp cho bị cáo P số tiền 26.000.000 đồng còn lại như đã thỏa thuận.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Ngọc T cùng với các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Dương Công V, Phạm Khắc H1, Trần Văn T3, Phạm Thanh S phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T:
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Dương Công V, Phạm Khắc H1, Trần Văn T3, Phạm Thanh S đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận việc bị cáo T thống nhất với các bị cáo P, V, T3, H1, S về việc mua quan tài đặt trước cửa nhà của bị hại, nhằm gây áp lực để buộc bị hại T2 phải trả tiền nợ. Trước khi các bị cáo để quan tài trước nhà thì bị cáo T đã chở các bị cáo khác đến nhà bị hại T2 đòi tiền nhưng không gặp bị hại T2; các bị cáo đã thông tin cho gia đình T2 biết việc đòi tiền và buộc bị cáo T2 phải trả. Theo trích xuất dữ liệu điện thoại của bà Trần Đặng Ánh N1 thì quá trình bà N1 và bị cáo T đòi nợ bị hại T2, bị cáo T đã sử dụng vũ lực để buộc bị hại T2 phải viết giấy nhận nợ và cam kết trả nợ. Theo diễn biến sự việc thì bị cáo và những người liên quan đã có lời lẽ, hành động thể hiện sự uy hiếp về mặt tinh thần đối với bị hại T2 từ trước; việc các bị cáo đặt quan tài trước nhà bị hại là một hình thức đe dọa, uy hiếp về sức khỏe, tính mạng để buộc bị hại T2 phải trả nợ. Do đó, hành vi của bị cáo T và các đồng phạm đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo kháng cáo cho rằng hành vi của bị cáo cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” là không có cơ sở chấp nhận.
5
Về hình phạt, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, trật tự quản lý xã hội của cơ quan nhà nước và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo phạm tội theo điểm a khoản 4 Điều 170 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 57, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 07 năm tù – mức khởi điểm của khoản 3 Điều 170 Bộ luật hình sự là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét kháng cáo của bị cáo về hình phạt; cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 170 điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 57; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/3/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
6
Bản án số 135/2025/HS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 135/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 170 điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 57; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T (Mão) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 25/3/2024.
