TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2025/HNGĐ-ST Ngày: 31/12/2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Sơn Hùng và bà Ngô Thị Lệ Thi.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên toà:
Bà Dương Thị Bé Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 222/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 535/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 568/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 2496/2025/TB-TA ngày 16/12/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Đặng Hoàng M, sinh năm 1988; nơi cư trú: số G, ấp T, xã B, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1991; nơi cư trú: số nhà C, tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
Ông M, bà C vắng mặt tại phiên tòa (ông M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Hoàng M trình bày:
Về hôn nhân: Ông Đặng Hoàng M và bà Lê Thị Cam T tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào 29 tháng 7 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C (nay là xã B), tỉnh An Giang.
Quá trình chung sống thời gian đầu vợ, chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2013 sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vả. Tôi và bà C đã không còn chung sống với nhau từ năm 2013 cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không thể hàn gắn nên tôi yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị C.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 (một) con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011. Ông M đồng ý giao con chung cho tên Đặng Thị Ngọc N cho bà C nuôi dạy, ông M không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bà Lê Thị C (do ba ruột ông Lê Văn T1 nhận thay), do bà C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến, không tiến hành hòa giải được.
Qua xác minh tại Công an xã B, tỉnh An Giang, xác nhận bà Lê Thị C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang; hiện bà C đi làm xa nên không thường xuyên sinh sống tại địa phương.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 về xét sử sơ thẩm vụ án.
- - Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt hai lần không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025
- - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, hôn nhân của ông Đặng Hoàng M và bà Lê Thị C đã mâu thuẫn trầm trọng, hiện không còn sống chung với nhau, trong thời gian ly thân cũng như quá trình hòa giải của Tòa án cả hai không chủ động hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc ông M yêu cầu ly hôn với bà C là có căn cứ chấp nhận. Về con chung: bà C được nuôi dạy con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con chung;
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Minh xác Đ không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Ông Đặng Hoàng M khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị C. Bà C có nơi cư trú trên địa bàn xã B, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 1 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Đặng Hoàng M vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt, bị đơn bà Lê Thị C đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
* Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Đặng Hoàng M và bà Lê Thị Cam T tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 7 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C (nay là xã B), tỉnh An Giang nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Theo biên bản lời khai ngày 13/11/2025 của ông Đặng Hoàng M thì ông M và bà Lê Thị C trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và đã không còn sống chung với nhau từ năm 2013 đến nay.
Tòa án ghi nhận ý kiến ông Lê Văn T1 (là ba ruột bà C), có nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo lại cho bà C biết việc ông M khởi kiện ly hôn nhưng cũng không có ý kiến bằng văn bản, thể hiện việc bà C cũng không mong muốn hàn gắn tình cảm và ông T1 xác định bà C và ông M cũng không còn chung sống với nhau khoảng hơn 10 năm; về con chung: vợ chồng có 01 (một) con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011, hiện bà C đang chăm sóc, nuôi dạy.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, nhưng trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hiện ông M, bà C đã không còn sống chung với nhau từ năm 2013 đến nay. Nhận thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa ông M, bà C là trầm trọng, vợ chồng đã sống xa cách, không quan tâm đến nhau, do đó mục đích hôn nhân cũng không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M về việc ly hôn với bà C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
[4] Về con chung: Ông M, bà C có 01 (một) con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011. Xét thấy, khi vợ chồng ông M, bà C không còn sống chung cho đến nay, cháu Đặng Thị Ngọc N sống cùng gia đình bà C; đồng thời cháu N có nguyện vọng sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông M, giao cháu Đặng Thị Ngọc N cho bà C tiếp tục nuôi dạy cho đến khi thành niên và có khả năng lao động, ông M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Lê Thị C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đặng Hoàng M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: ông M khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Đặng Hoàng M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp. Bà Lê Thị C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273, khoản 2 Điều 1 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hoàng M.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Hoàng M, sinh năm 1988 được ly hôn với bà Lê Thị C, sinh năm 1991.
- Về con chung: Bà Lê Thị C được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011. Ông Đặng Hoàng M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Thị C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đặng Hoàng M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Ông Đặng Hoàng M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003035 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 - An Giang. Ông Đặng Hoàng M đã nộp đủ án phí.
Bà Lê Thị C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của ông Đặng Hoàng M và bà Lê Thị C vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lâm Ngọc Phượng |
Bản án số 135/2025/HNGĐ-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 135/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Hoàng M. [1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Đặng Hoàng M, sinh năm 1988 được ly hôn với bà Lê Thị C, sinh năm 1991. [2] Về con chung: Bà Lê Thị C được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Đặng Thị Ngọc N, sinh ngày 02/12/2011. Ông Đặng Hoàng M không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Lê Thị C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Đặng Hoàng M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
