|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/02/2025
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Phương Hồ;
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1120/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ thường trú: Số A đường H, Ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Số B đường A, Ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phạm Gia H, sinh năm 1973 (có mặt).
Địa chỉ thường trú: Số A đường H, Ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn xin ly hôn ngày 26/9/2024, tại biên bản hòa giải ngày 13/11/2024, biên bản hòa giải ngày 11/12/2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày sự việc như sau:
Bà (Nguyễn Thị T) và ông Phạm Gia H tự nguyện chung sống và đăng ký hết hôn vào ngày 03/9/2003 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 103/2003.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp, ông H thường xuyên ghen tuông vô cớ trong thời gian dài, bà đã cho ông H nhiều cơ hội nhưng ông H không thay đổi. Sau đó do sức khỏe không cho phép nên bà không đáp ứng được chuyện quan hệ vợ chồng dẫn đến ông H ngày càng ghen tuông vô cớ. Bà và ông H đã sống ly thân từ tháng 07/2024 đến nay.
Do thấy cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên là Phạm Ngọc Khánh N, sinh ngày 19/4/2004 (đã thành niên) và Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011. Hiện nay trẻ H1 đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trẻ H1, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà xác định không có.
Về nợ chung: Bà xác định không có.
- Tại bản tự khai ngày 13/11/2024, tại biên bản hòa giải ngày 13/11/2024, tại biên bản hòa giải ngày 11/12/2024 và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Gia H trình bày như sau:
Vợ chồng ông đã sống ly thân từ khoảng 07/2024 đến nay. Vì vợ ông không thương ông nên ông có ghen tuông vô cớ. Do còn thương vợ nên ông mong muốn đoàn tụ gia đình, không muốn ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng ông có 02 con chung tên là Phạm Ngọc Khánh N, sinh ngày 19/4/2004 (đã thành niên) và Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011. Hiện nay trẻ H1 đang sống chung với vợ ông. Nếu ly hôn, ông đồng ý giao con chung là trẻ H1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Ông xác định không có.
Về nợ chung: Ông xác định không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Phạm Gia H có nơi cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phạm Gia H, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T và ông Phạm Gia H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 103/2003 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 03/9/2003, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Tại đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà T khai rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp, ông H thường xuyên ghen tuông vô cớ trong thời gian dài, bà đã cho ông H nhiều cơ hội nhưng ông H không thay đổi. Sau đó do sức khỏe không cho phép nên bà không đáp ứng được chuyện quan hệ vợ chồng dẫn đến ông H ngày càng ghen tuông vô cớ. Bà và ông H đã sống ly thân từ tháng 07/2024 đến nay.
Tại bản tự khai ngày 13/11/2024, tại biên bản hòa giải ngày 13/11/2024, biên bản hòa giải ngày 11/12/2024 và tại phiên tòa, ông H không đồng ý ly hôn với bà T vì ông H còn thương vợ nên muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, muốn được đoàn tụ gia đình để cùng nhau chăm sóc con cái nhưng bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông H.
Xét thấy, mặc dù ông H không đồng ý ly hôn nhưng vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà T là có cơ sở.
- Về con chung:
Bà T và ông H có 02 con chung tên là Phạm Ngọc Khánh N, sinh ngày 19/4/2004 và Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011.
Do Phạm Ngọc Khánh N, sinh ngày 19/4/2004, đã thành niên nên không xét.
Đối với trẻ Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011, xét thấy trẻ H1 đang sống cùng với bà T; khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ H1.
Tại phiên tòa, ông Hòa đồng Ý giao trẻ H1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là sự tự nguyện của bà T, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung:
Bà T và ông H đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà T và ông H xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà T phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết .
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T được quyền ly hôn với ông Phạm Gia H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 103/2003 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà T và ông H ngày 03/9/2003 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Bà T và ông H có 02 con chung tên là Phạm Ngọc Khánh N, sinh ngày 19/4/2004 (đã thành niên) và Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011.
Giao trẻ Phạm Gia H1, sinh ngày 23/10/2011 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà T phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016286 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hương |
Bản án số 135/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 135/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn đơn phương
