TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 135/2025/DS-PT
Ngày: 26/3/2025
“V/v tranh chấp HĐ vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư, ông Võ Bảo Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 26/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 84/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 410/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Thoàn Quốc V, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số A, tổ E, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Minh C, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số A, tổ F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền: Hứa Tấn T, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ F, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Hữu P, sinh năm 1975. Có đơn xin vắng.
- Bà Lê Thị Bé H, sinh năm 1981. Có đơn xin vắng.
Địa chỉ: Số G đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Đại diện uỷ quyền của ông Dương Hữu P: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ F, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin vắng.
Người làm chứng: Nguyễn Văn L, sinh năm 1964; Địa chỉ: E, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Văn Thoàn Quốc V.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
Đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày: Ngày 15/5/2018 ông Nguyễn Minh C có làm hợp đồng vay với ông Phạm Văn T1 Quốc Việt số tiền 100.000.000 đồng, thoả thuận thời gian vay đến ngày 30/12/2019, lãi suất vay 3%/tháng. Ông C có giao cho ông V 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên. Từ khi nhận tiền vay đến nay ông C không đóng lãi và cũng không trả nợ gốc cho ông V. Nay ông V yêu cầu ông C có nghĩa vụ trả lại cho ông số tiền đã vay là 100.000.000 đồng. Lãi suất tính từ ngày 15/5/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức 20%/năm.
Đại diện uỷ quyền bị đơn ông Nguyễn Minh C trình bày: Ông C chỉ quen biết với ông Nguyễn Văn L. Ông hoàn toàn không biết đến ông Phạm Văn Thoàn Quốc V. Ông C có đưa cho ông L 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên để ông L vay tiền dùm. Ông L có kêu ông C ký tên vào Hợp đồng vay tiền, sau đó ông L sẽ vay tiền cho ông. Ông đợi mãi nhưng ông L vẫn không giao tiền, ông gọi điện thì bị ông L đe doạ sẽ huỷ hết các giấy tờ mà ông C giao cho ông L. Do lo sợ giấy tờ bị hủy nên ông C không dám đòi lại. Nay ông Phạm Văn Thoàn Quốc V yêu cầu ông trả lại 100.000.000 đồng và tiền lãi là không có căn cứ.
Ông Nguyễn Minh Ccó đơn phản tố yêu cầu ông Phạm Văn Thoàn Quốc Vphái trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H khai nhận: Vợ chồng ông có cho ông Nguyễn Minh C mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông bà đứng tên để đi vay tiền về trả lương cho công nhân. Vợ chồng ông không hề biết ông Phạm Văn Thoàn Quốc V và cũng không có nhận tiền từ ông V.
Ông Dương Hữu Pcó đơn yêu cầu độc lập yêu cầu ông Phạm Văn Thoàn Quốc V trả lại cho ông P giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông phúc và bà H đứng tên.
Người làm chứng: thống nhất lời trình bày của nguyên đơn. Việc ông C vay tiền và giao nhận tiện với ông V ông có mặt ở đó. Ông V đã giao trực tiếp số tiền 100.000.000 đồng cho ông C.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 84/2024/DSST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Thoàn Quốc V.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Dương Hữu P.
Buộc ông Phạm Văn T1 Quốc Việt trao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03490, thửa số 453, tờ bản đồ số 22 do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên, địa chỉ T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử nguyên đơn ông Phan Văn Thoàn Quốc V1 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hứa Tấn T đại diện ủy quyền cho ông Nguyễn Minh C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông C không có nhận tiền của ông V1. Ông C không thừa nhận chữ ký tên trong biên nhận vay tiền là chữ ký của ông C. Hợp đồng vay tiền có sự sửa chữa, ngày tháng không phù hợp...
Ông V1 trình bày: Ông giao 100.000.000 đồng cho ông C và ông C có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông P. Bản án sơ thẩm tuyên là thiệt thòi quyền lợi cho ông. Ông yêu cầu ông C trả 100.000.000 đồng cho ông và ông không yêu cầu lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tuy hợp đồng vay tiền về hình thức chưa cụ thể nhưng về nội dung thể hiện ông C có vay tiền của ông V1 là 100.000.000 đồng và có thế chấp cho ông C giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông P, người làm chứng là ông Nguyễn Văn L thấy ông V1 giao tiền cho ông C. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Ngày 15/5/2018 ông Nguyễn Minh C có làm hợp đồng vay với ông V1 số tiền 100.000.000 đồng, thoả thuận thời gian vay đến ngày 30/12/2019, lãi suất vay 3%/tháng. Ông C có giao cho ông V1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên. Do ông C vi phạm thời gian trả nợ nên ông V1 khởi kiện yêu cầu ông C trả cho ông số tiền đã vay là 100.000.000 đồng. Lãi suất tính từ ngày 15/5/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức 20%/năm. Bị đơn cho rằng không thừa nhận có vay tiền của ông V1 mà ông Cchỉ quen biết với ông Nguyễn Văn L. Ông Ccó đưa cho ông L01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên để ông L vay tiền dùm. Ông L có kêu ông C ký vào Hợp đồng vay tiền, sau đó ông L sẽ vay tiền cho ông. Ông đợi mãi nhưng ông L vẫn không giao tiền, ông gọi điện thì bị ông L đe doạ sẽ huỷ hết các giấy tờ mà ông C giao cho ông L nên ông C không dám đòi.
Nay ông V1 yêu cầu ông trả lại 100.000.000 đồng và tiền lãi là không có căn cứ. Ông C có đơn phản tố yêu cầu ông V1 phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Dương Hữu Pvà bà Lê Thị Bé Hđứng tên. Bà Hông Pcũng có yêu cầu độc lập yêu cầu ông V1 phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà.
Qua xem xét yêu cầu nguyên đơn nhận thấy:
[2.1] Xét hình thức của tờ biên nhận: Nguyên đơn căn cứ vào Hợp đồng vay tiền ghi ngày vay 15/11/2017 có cho ông C vay số tiền 100.000.000 đồng. Về hình thức tờ biên nhận ghi không rõ ràng ngày, tháng vay tiền. Tờ biên nhận có nhiều mẫu chữ viết. Chưa phù hợp với phần giữa của tờ biên nhận là ngày vay 30/12/2019.
[2.2] Xét về nội dung: Phía bị đơn ông Nguyễn Minh C thừa nhận có viết phần nội dung là tên, địa chỉ của người vay tiền, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, số tiền vay 100.000.000 (một trăm triệu đồng) do chính bị đơn ông C viết và ngày vay tiền là ngày 30/12/2019.
Xét về nội dung này Hội đồng xét xử nhận thấy ông C thừa nhận có viết vào tờ biên nhận trên và ghi số tiền vay là 100.000.000 đồng nên có cơ sở ông C đã vay tiền của ông V1 là đúng sự thật. Hơn nữa, ông C có đưa cho ông L thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Dương Hữu P và bà Lê Thị Bé H, hiện ông C đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này xem như việc thế chấp để vay tiền. Mặc khác, ông Nguyễn Văn Lơ L1 người làm chứng giới thiệu cho ông C vay tiền của ông V1 và khẳng định ông C có nhận tiền vay 100.000.000 đồng của ông V1. Do đó, yêu cầu khởi kiện đòi 100.000.000 đồng của ông V1 là có căn cứ.
Phía ông C cho rằng đưa giấy tờ cho ông L để nhờ ông L vay dùm nên khi đòi lại thì ông Lơ dọa sẽ hủy hết các giấy tờ này nên không dám đòi. Lời trình bày này là không có căn cứ vì những giấy tờ này nếu mất có thể xin cấp đổi lại nên lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa phù hợp. Do đó, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
[3] Về tiền lãi: Đáng lý ra bị đơn phải trả tiền lãi. Tuy nhiên, ông V1 không yêu cầu tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Xét yêu cầu phản tố của của bị đơn ông Nguyễn Minh C: Ông yêu cầu ông V1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông P và bà H. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông đã rút yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ nên giữ nguyên phán quyết này. Xét yêu cầu độc lập của ông P1 và bà H là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về tiền án phí dân sự: Ông C phải chịu: 5.000.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003157 ngày 27/02/2024 nên ông C phải nộp thêm 4.700.000 đồng.
Ông Dương Hữu P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003473 ngày 23/5/2024 tại Chi cục thi hành án quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Ông V1 được nhận lại 4.740.000 đồng theo biên lai thu số 0003488 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Ông V1 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003598 ngày 15/7/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 92, Điều 147; Điều 157; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 155, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- - Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn Thoàn Quốc V. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Buộc ông Nguyễn Minh C phải trả cho ông Phạm Văn Thoàn Quốc V số tiền: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông V mà ông C chậm thanh toán thì ông C phải chịu lãi suất tương ứng với thời gian chậm thi hành cho đến khi thi hành án xong.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Dương Hữu P.
Buộc ông Phạm Văn T1 Quốc Việt trao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03490, thửa số 453, tờ bản đồ số 22 do ông Dương hữu P và bà Lê Thị Bé H đứng tên, địa chỉ T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Minh C đòi ông Phạm Văn Thoàn Quốc V phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P bà H.
Về tiền án phí dân sự: Ông C phải chịu: 5.000.000 đồng. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003157 ngày 27/02/2024 nên ông C phải nộp thêm 4.700.000 đồng.
Ông V được nhận lại 4.740.000 đồng theo biên lai thu số 0003488 ngày 09/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Ông Dương Hữu P được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003473 ngày 23/5/2024 tại Chi cục thi hành án quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Ông V được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003598 ngày 15/7/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Thị Trang Thư - Võ Bảo Anh | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 135/2025/DS-PT ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 135/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản
