Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/DS-PT

Ngày: 11 - 6 - 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng
Ông Hồ Văn Luông

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đại - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên tòa.

Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2025/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 110/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 95/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. 1.1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960.
  2. 1.2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1957.

Cùng địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

  • Bà Lê Thị Ngọc D. (vắng mặt).
  • Ông Thái Trung N. (vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn H. (vắng mặt).
  • - Ông Nguyễn Thái V. (vắng mặt).
  • - Ông Dương Minh P. (vắng mặt).
  • - Bà Võ Ngọc N1. (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số B, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Ông Lương Văn N2.

Địa chỉ: Ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành Vĩnh T1, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Số B C, phường C, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Võ Tấn Đ.

Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).

3.2. Bà Nguyễn Võ Bích T2.

Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).

3.3. Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vũ K.

Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (có đơn xin vắng mặt).

3.4. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh H

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thanh T3 - Chức vụ: Phó Giám đốc.

Địa chỉ: Khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (có đơn xin vắng mặt).

3.5. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Địa chỉ: Khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu N3 - Chấp hành viên. (có mặt).

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị X và Ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong đơn khởi kiện gửi Tòa án và quá trình Tòa án thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T với ông Lương Văn N2 không có quen biết hay bất cứ quan hệ họ hàng gì với nhau. Phần thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22 tọa lạc tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang đã được bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T sử dụng trong thời gian dài và được gia hạn tiếp tục sử dụng vào ngày 08/08/2019 và nguyên đơn không bán hay chuyển dịch quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho bất cứ người nào trong khoảng thời gian đó tới nay. Còn phần đất thuộc thửa đất số 250, tờ bản đồ số 72, tọa lạc tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (trước đó là thửa đất số 153, tờ bản đồ số 22 được nhà nước thu hồi và cấp lại vào năm 2016) cũng không có bán hay chuyển dịch quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho bất cứ người nào.

Nguyên đơn sử dụng phần đất trên lâu dài và ổn định. Tuy nhiên khoảng đầu năm 2023, nguyên đơn phát hiện ông Lương Văn N2 đã thuê người đến, dùng xe cuốc móc, san lấp trên hai phần đất nêu trên của bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T đang sử dụng. Trước hành vi tự ý xâm phạm trái phép này, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T có ngăn cản, yêu cầu ông N2 ngừng các hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất của nguyên đơn nhưng ông N2 vẫn tiếp tục tiến hành san lấp trái phép trên thửa đất của nguyên đơn.

Vì vậy, nhận thấy quyền sử dụng đất hợp pháp bị xâm phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình nên bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn Văn T đã viết đơn khởi kiện mong Toà án xem xét, giải quyết buộc ông Lương Văn N2 phải dỡ, di dời, ngừng san lấp xây dựng, trả lại quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 2269,3m² đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T thuộc thửa đất số 154; diện tích 135,9m² đứng tên bà Nguyễn Thị X thuộc thửa đất số 250.

Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Ngày 14/8/2017, ông Lương Văn N2 tham gia đấu giá quyền sử dụng đất có diện tích 2.158,8m², loại đất LUC, thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22 đất tọa lạc tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang với giá khởi điểm là 155.865.360 đồng. Sau 03 lần phát giá, ông N2 trúng đấu giá với giá 162.300.000 đồng. Khi trúng đấu giá ông N2 đã thực hiện xong nghĩa vụ tài chính và các thủ tục khác theo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Mặc dù đã được thông báo giao tài sản hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X không tự nguyện giao đất nên ngày 26/9/2017 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh đã cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn N2. Ngày 10/4/2018, ông Lương Văn N2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07127 thuộc thửa 994, tờ bản đồ số 22, diện tích 2.158,8m².

Tuy nhiên, hiện nay ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X có hành vi ngăn cản không cho ông Lương Văn N2 tiếp tục sử dụng đất. Nay yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh:

  1. Công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 2.158,8m², loại đất LUC, thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, đất tọa lạc tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang có nguồn gốc trúng đấu giá được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn N2 tiếp tục quản lý, sử dụng.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị X chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất diện tích 2.158,8m², loại đất LUC, thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, đất tọa lạc tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố V có đại diện hợp pháp là Ông Lê Vũ K trình bày:

Vào ngày 27/02/2018, Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang có ban hành Quyết định số 606/QĐ-UBND ngày 27/02/2018 về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng số 000340 do Ủy ban nhân dân huyện V ký ngày 01/4/1997 cấp cho hộ của ông Nguyễn Văn T. Lý do: người sử dụng đất không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số: 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ. Việc hủy giấy chứng nhận này là đúng trình tự thủ tục của pháp luật.

Sau khi hủy giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn T, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh tiến hành bán đấu giá thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang và ông Lương Văn N2 là người trúng đấu giá. Sau đó Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lương Văn N2 vào ngày 10/4/2018. Đến ngày 08/8/2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V gia hạn quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T trong đó có thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22 tiếp tục sử dụng đến ngày 01/4/2067.

Mặc dù ngày 08/8/2019 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V gia hạn quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn T trong đó có thửa đất số 154. Tuy nhiên, việc gia hạn này không đúng quy định của pháp luật vì thửa đất số 154 đã bị hủy giấy chứng nhận và cấp lại cho ông Lương Văn N2 là người trúng đấu giá với thửa đất số 994, tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lương Văn N2 mới có giá trị pháp lý. Ông Lương Văn N2 mới là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 994 (Thửa 154 cũ).

Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh có đại diện hợp pháp là ông Trần Thanh T4 trình bày:

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh có ý kiến về trình tự thủ tục kê biên bán đấu giá đối với thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang của hộ ông Nguyễn Văn T như sau:

  1. Qua kiểm tra hồ sơ thi hành án nhận thấy đối với việc Chấp hành viên kê biên để bán đấu giá thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V là đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, trong quá trình thực hiện Chấp hành viên có thông báo đến đương sự biết vụ việc.
  2. Căn cứ Công văn số 309/ĐGPN ngày 18/7/2024 của Công ty Đ1 cho biết và khẳng định quy trình, thủ tục bán đấu giá tài sản của hộ ông Nguyễn Văn T đảm bảo đúng theo quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Lương Văn N2 trả lại quyền sử dụng đất là thửa 154 (nay là thửa 994), diện tích 2269.3m², tờ bản đồ số 22 tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
  2. Ông Lương Văn N2 được quyền sử dụng thửa đất 994, diện tích 2158.8m² (ký hiệu I(2)), tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN:CS07127, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H ký ngày 10/4/2018 cấp cho ông Lương Văn N2.

(Kèm theo bản án là Mảnh trích đo địa chính số 32-2024 ngày 02/5/2024 của Công ty TNHH MTV Đ2 - Chi nhánh H1).

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Lương Văn N2 trả lại thửa đất số 250, diện tích 135.9m², tờ bản đồ số 72, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/10/2024, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị X, Ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 169/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 và xét xử lại vụ án theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lương Văn N2 phải trả lại quyền sử dụng đất đối với phần diện tích 2269,3m² đứng tên hộ ông Nguyễn Văn T thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 22, toạ lạc tại khu V, phường I, thành phố V cho bà X và ông T quản lý, sử dụng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét việc Chấp hành viên đã thực hiện thủ tục kê biên tài sản đúng hay chưa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình, theo đúng quy định thì Chấp hành viên phải khởi kiện để xác định, phân chia tài sản chung nhưng Chấp hành viên không khởi kiện mà tự ý kê biên bán đấu giá tài sản là không đúng; Ngoài ra phần đất tại thửa 154 tại thời điểm ông N2 mua trúng đấu giá là 162.3000.000₫ nhưng theo kết quả định giá hiện tại của Cơ quan chuyên môn thì phần đất trên có giá trị hơn 1.000.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông N2 đã trúng đấu giá và phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N2 đúng theo quy định pháp luật; Sau khi được cơ quan có thẩm quyền giao đất năm 2017 thì ông N2 sử dụng phần đất này ổn định đến nay; Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Phần đất các bên đang tranh chấp thửa đất 994 (trước đây là thửa 154) do ông Lương Văn N2 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này do ông N2 mua trúng đấu giá; Việc Chấp hành viên thực hiện các thủ tục kê biên, bán đấu giá đảm bảo trúng trình tự quy định, do đó việc ông T và bà X khởi kiện để yêu cầu công nhận phần đất trên cho vợ chồng ông bà là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị X, Ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị X, Ông Nguyễn Văn T:

[2.1] Theo Mảnh trích đo địa chính số 32/2024 ngày 02/5/2024 thì phần đất tranh chấp giữa các đương sự là thửa đất 994 (trước đây là thửa 154), có diện tích 2.158,8m². Phần đất này hiện tại do bị đơn ông Lương Văn N2 đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng, trên đất có các cây trồng do ông N2 trồng.

[2.2] Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của hộ bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T được cấp giấy chứng nhận vào năm 1997. Vào ngày 11/10/2011 Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 12/QĐ-CCTHA để thi hành Bản án số: 117/2011/DSPT ngày 18/8/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang. Do nguyên đơn bà X và ông T không tự nguyện thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh đã ban hành Quyết định số: 23/QĐ-CCTHA ngày 20/6/2016 về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất của bà X và ông T. Quyền sử dụng đất được tiến hành bán đấu giá thuộc thửa đất số 154, diện tích 2.158,m², tờ bản đồ số 22 tại khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Ngày 14/8/2017 bị đơn ông Lương Văn N2 đã mua được tài sản bán đấu giá với số tiền là 162.300.000 đồng.

Sau khi ông N2 trúng đấu giá bà X và ông T vẫn không tự nguyện thi hành án nên Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh ban hành Quyết định số 17/QĐ-CCTHA ngày 18/9/2017 để cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất thửa 154, diện tích 2.158,8m² của bà X và ông T cho ông N2 sử dụng.

Ngày 27/02/2018 Ủy ban nhân dân thành phố V đã ban hành Quyết định số 606/QĐ-UBND về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 000340 do Ủy ban nhân dân huyện V ký ngày 01/4/1997 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T. Lý do hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do người sử dụng đất không giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 10/4/2018 ông Lương Văn N2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất được mua trúng đấu giá là thửa đất 994.

Đến ngày 08/8/2019 bà X và ông T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V chỉnh lý biến động (trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000340 đã bị hủy), được tiếp tục sử dụng đất đối với thửa đất 154 đến ngày 01/4/2067. Mặc dù bà X và ông T được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V chỉnh lý biến động được quyền sử dụng thửa đất số 154 đến ngày 01/4/2067. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000340 do Ủy ban nhân dân huyện V ký ngày 01/4/1997 đã bị hủy, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H cũng đã xác định việc gia hạn quyền sử dụng đất cho bà X và ông T là không đúng trình tự, không đúng quy định pháp luật về đất đai. Ngoài ra, Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang đã xác định bị đơn ông Lương Văn N2 mới là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất 994 (thửa cũ là 154), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà X, ông T đã bị huỷ và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N2 mới có giá trị pháp lý. Vì vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000340 do Ủy ban nhân dân huyện V ký ngày 01/4/1997 là không có giá trị sử dụng. Bà X và ông T không còn được quyền sử dụng thửa đất số 154 theo giấy chứng nhận này.

Xét thấy, bị đơn ông N2 là người mua trúng đấu giá hợp pháp thửa số 154 (994), trong quá trình bán đấu giá tài sản không ai có yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản và người mua trúng đấu giá đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã được giao đất và quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay. Cho nên ông N2 mới là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 994. Bà X và ông T không chấp hành pháp luật, không tự nguyện thi hành án trong suốt thời gian từ năm 2011 đến năm 2016 nên đã bị cưỡng chế kê biên bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án. Sau khi hoàn thành việc bán đấu giá tài sản, bà X, ông T vẫn tiếp tục không tự nguyện giao đất cũng như giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp mới cho người trúng đấu giá nên bị cưỡng chế giao đất và bị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn giao trả lại thửa đất 154 (994) là phù hợp.

[3] Đối với ý kiến của đại diện ủy quyền của nguyên đơn cho rằng đề nghị Hủy bản án sơ thẩm lý do Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trình tự thủ tục kê biên bán đấu giá tài sản của Chấp hành viên - Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh: Xét thấy quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không khởi kiện yêu cầu hủy quyết định kê biên tài sản, hủy kết quả đấu giá mà chỉ yêu cầu bị đơn ông Lương Văn N2 trả lại quyền sử dụng đất tại thửa 154 nên căn cứ Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự “Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu”; Mặt khác, tại phiên Tòa thì đại diện ủy quyền của nguyên đơn cũng khai nhận trước đây có khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết việc kê biên, đấu giá tài sản của bà X và ông T nhưng sau đó đã có kết luận không chấp nhận khiếu nại của vợ chồng ông T. Do đó, lý do trên của đại diện ủy quyền của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới có giá trị pháp lý nên không có căn cứ để chấp nhận.

[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu án phí phúc thẩm với số tiền 300.000 đồng, tuy nhiên nguyên đơn là người cao tuổi, có đơn yêu cầu xin miễn án phí nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 99, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị X, Ông Nguyễn Văn T.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 169/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu bị đơn ông Lương Văn N2 trả lại quyền sử dụng đất là thửa 154 (nay là thửa 994), diện tích 2269,3m², tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
  2. Ông Lương Văn N2 được quyền sử dụng thửa đất 994, diện tích 2158,8m² (ký hiệu I(2)), tờ bản đồ số 22, tại khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Theo giấy chứng quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS07127, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H ký ngày 10/4/2018 cấp cho ông Lương Văn N2.

(Kèm theo bản án là Mảnh trích đo địa chính số 32-2024 ngày 02/5/2024 của Công ty TNHH MTV Đ2 - Chi nhánh H1).

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T.

Chi phí thẩm định, vẽ lược đồ phần đất tranh chấp và thẩm định giá tài sản. Buộc bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T phải nộp là 10.915.000 đồng (Mười triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng). Bà X và ông T đã nộp xong.

  1. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Văn T

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các phần nhận định và quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đào Thị Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hùng - Hồ Văn Luông

Đào Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 135/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger