Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/DS-PT

Ngày 09 tháng 6 năm 2025

V/v “tranh chấp kiện đòi giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Lưu Hữu Giàu, bà Trịnh Ngọc Thúy.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Trần Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 73/2025/TLPT-DS ngày 09/4/2025 về việc “Tranh chấp kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXPT-DS ngày 15/4/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 157/2025/QĐ-PT ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1933 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1932; cùng nơi cư trú: Tổ 15, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B: Bà Trần Thị C, sinh ngày 03/7/1966; địa chỉ thường trú: tổ 5, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang, theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 01/7/2024 được Công chứng tại Văn phòng C1 (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Hứa Huy T, sinh năm 1984 và bà Trần Thị L, sinh năm 1984; cùng nơi cư trú: Tổ 03, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Trần Thanh B1 (con ông M, bà B), sinh năm 1980, địa chỉ nơi cư trú: Tổ 5, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2

3.2. Ông Lê Trí T1, sinh năm 1986; địa chỉ nơi cư trú: Tổ 13, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B là bà Trần Thị C trình bày và yêu cầu:

Ông, bà để lại cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B phần đất hương quả diện tích 9.616m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², đất tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020, nhưng do ông Trần Thanh B1 đá gà trên mạng thua ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L gây nợ, ông Trần Thanh B1 lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m² tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 10/02/2020 giao cho ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L và ông Lê Trí T1 để cầm trừ nợ, hiện nay ông M, bà Ba K biết giấy chứng nhận do ai quản lý.

Nay ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B khởi kiện yêu cầu ông Trần Thanh B1, ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L và ông Lê Trí T1 cùng có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m² tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng ngày 10/02/2020.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B rút yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03913 diện tích 2.423,4m², đất tọa lạc tại khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020.

Theo lời khai và trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L trình bày:

Khoảng tháng 10/2022DL, ông Trần Thanh B1 có kêu vợ chồng ông bán đất diện tích 1.300m² với giá 169.000.000 đồng thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.960m², đất tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và

3

bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020.

Nên vợ chồng ông, bà có gặp trực tiếp bà B với ông M, bà B và ông M nói phần đất đó đã cho ông B1, nên bà B và ông M có kêu vợ chồng ông mua để cho ông B1 trả nợ, khi đó vợ chồng ông mới đồng ý mua và có viết hợp đồng đặt cọc 100.000.000 đồng do bà B và ông M ký tên và nhận tiền cọc, sau đó đưa thêm cho bà B và ông M 30.000.000 đồng không có làm giấy có ông Trần Thanh B1 cùng ký tên vào biên nhận tiền đặt cọc, sau đó vợ chồng ông mới chuyển nhượng 1.300m² lại cho ông Lê Trí T1 với giá 150.000.000 đồng, vì vợ chồng ông kẹt tiền nên chấp nhận bán lỗ, việc sang tên và ký hợp đồng chuyển quyền được công chứng chuyển nhượng đất như thế nào thì do ông T1 với bà B, ông M tự thực hiện.

Vợ chồng ông, bà không có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912 diện tích 9.616m², thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M, bà B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (không có yêu cầu độc lập) là ông Trần Thanh B1 (con ông M, bà B) trình bày:

Do chơi đá gà mạng nợ tiền ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L, nên ông có xin ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B (cha mẹ ông) diện tích đất 1.300m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912 diện tích 9.616m² (thửa số 143, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31 diện tích 4.960m²), đất tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông M và bà B đứng tên ngày 10/02/2020 bán để trừ tiền nợ của ông T, bà L. Diện tích đất 1.300m² được cha mẹ đồng ý cho ông, nên ông chở ông M, bà B đi công chứng tách thửa diện tích 1.300m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912 diện tích 9.616m², thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 10/02/2020 cho ông T, ông không có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cha mẹ ông (ông M, bà B).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án (không có yêu cầu độc lập) là ông Lê Trí T1 trình bày:

Phần diện tích đất 1.300m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912 diện tích 9.616m², thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông M và bà B ngày 10/02/2020 là do ông nhận chuyển nhượng của ông

4

Hứa Huy T và bà Trần Thị L với giá 150.000.000 đồng, ông đã làm thủ tục sang tên hoàn tất xong, sau đó ông đã bán lại cho người khác.

Ông không có giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912 diện tích 9.616m², thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông M, bà B.

Hiện ông đang quản lý bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích sau khi chuyển nhượng cấp đổi số GCN CN06956, thửa đất số 167 diện tích 4.960m², thửa số 143 diện tích 3.356m² do Văn phòng Đ – Chi nhánh T2 cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 03/7/2023, ông có trả lại giấy chứng nhận này cho gia đình ông M, bà B, nhưng ông M, bà Ba K đồng ý nhận.

Chứng cứ do Tòa sơ thẩm thu thập:

- Theo Công văn số 443 ngày 20/11/2024 của Phòng C2 tỉnh An Giang phúc đáp công văn số 281 ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên cung cấp nội dung thể hiện: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B với anh Lê Trí T1 đã ký được Phòng C2 chứng nhận số 003033 ngày 27/4/2023.

+ Hợp đồng này đã được công chứng theo đúng trình tự, thủ tục và quy định pháp luật, các bên giao dịch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; Các giấy tờ tùy thân, giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp đều đầy đủ, hợp lệ, hợp pháp.

+ Tại thời điểm công chứng không có thông tin, dữ liệu, văn bản nào ngăn chặn giao dịch đối với chủ sử dụng đất hay đối với tài sản được chuyển nhượng.

+ Việc thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là căn cứ theo yêu cầu và theo các giấy tờ do các bên cung cấp, đúng theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.

- Căn cứ công văn số 1287 ngày 25/12/2024 của Văn phòng Đ - Chi nhánh T2 cung cấp cho Tòa án thể hiện, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích diện tích 9.616m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B ngày 10/02/2020 đã được thu hồi do tách thửa để chuyển quyền sử dụng diện tích đất 1.300m² cho anh T1. Diện tích đất còn lại của ông M và bà B đã được cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN06956 do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh T2 cấp ngày 03/7/2023.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang căn cứ vào Điều 105, 158, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm

5

2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019; căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu anh Trần Thanh B1, anh Hứa Huy T, chị Trần Thị L và anh Lê Trí T1 cùng có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B.

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B về việc không yêu cầu anh Hứa Huy T và chị Trần Thị L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS03913, diện tích 2.423,4m², tọa lạc tại khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở T cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B.

Người kháng cáo:

Ngày 23/01/2025, ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị C kháng cáo yêu cầu: Buộc ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L, ông Lê Trí T1 và ông Trần Thanh B1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 cho ông M, bà B (ngoài ra không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm).

Những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa, bà C (con ông M, bà B) là người đại diện theo ủy quyền cho ông M, bà B xác định yêu cầu kháng cáo đó là: Yêu cầu Tòa phúc thẩm xử buộc ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L, ông Lê Trí T1 và ông Trần Thanh B1 trả lại giấy chứng nhận quyên sử dụng đất (bản chính) diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 cho ông M, bà B. Bà C còn xác định ông M, bà B có lăn tay trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T tại quán cà phê “Sen H”, ngoài ra không ký giấy tờ gì khác cho ông B1, bà yêu cầu xem xét yêu cầu kháng cáo của bà với ông M, bà B theo pháp luật, ngoài ra không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm.

6

Đại diện Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến và đề nghị:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong vụ án thực hiện đúng quy định do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm, đối chiếu quy định pháp luật, Viện kiểm sát nhận thấy tòa sơ thẩm đã xem xét xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, bà B về việc yêu cầu anh Hứa Huy T, chị Trần Thị L, anh Lê Trí T1 và anh Trần Thanh B1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cho ông M và bà B đứng tên ngày 10/02/2020; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông M và bà B về việc yêu cầu ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03913 ngày 10/02/2020 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B là có căn cứ, đúng pháp luật.

Ông M, bà B và bà C kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, nên không có căn cứ để xem xét, đề nghị Tòa phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B và bà Trần Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử lý án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 20/01/2025, ngày 23/01/2025 ông M, bà B và bà C kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm xử buộc ông T, bà L, ông T1 và ông B1 trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông M và bà B đứng tên ngày 10/02/2020 cho ông M, bà B, ngoài ra không kháng cáo các nội dung khác của bản án sơ thẩm, là kháng cáo trong hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của ông M, bà B và bà C được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên, không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

[1.2] Ông T, bà L, ông B1 và ông T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nhưng họ đã có lời khai trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, việc vắng mặt các đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội

7

đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung như Kiểm sát viên đề nghị là đúng tố tụng.

[2] Về nội dung: Xét nội dung yêu cầu kháng cáo của ông M, bà B và bà C thì thấy,

Chứng cứ tại vụ án thể hiện, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² số vào sổ GCN: CS03912 gồm (thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m²) đất tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang cho ông M và bà B đứng tên 10/02/2020. Ông M, bà B do bà C đại diện khởi kiện yêu cầu ông T, bà L, ông T1 và ông B1 giao trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² số vào sổ GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m² tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông M và bà B đứng tên 10/02/2020 cho ông M và bà B.

Tại cấp sơ thẩm, ông M, bà B do bà C đại diện rút lại yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS03913, diện tích 2.423,4m², tọa lạc tại khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở T cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B, nên Tòa sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B về việc không yêu cầu ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS03913, diện tích 2.423,4m², tọa lạc tại khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B là đúng pháp luật. Ông T, bà L, ông T1 và ông B1 (con ông M, bà B) không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông M, bà B.

Tại Văn bản số 1287/CNTB-ĐK ngày 25/12/2024 do Văn phòng Đ - Chi nhánh T2 cung cấp cho tòa án thể hiện: Năm 2023 ông M và bà B ký tên tách bộ một phần diện tích thửa số 143 (diện tích 4.656m²) thành 02 thửa (gồm thửa 143 diện tích 3.356m² và thửa số 288 diện tích 1.300m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² số vào số GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m² tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên 10/02/2020.

Ngày 27/4/2023, ông M và bà B ký thủ tục chuyển nhượng diện tích 1.300m² thửa 288 thuộc diện tích 9.616,2m² cho ông Lê Trí T1 theo Hợp đồng công chứng số 003033 ngày 27/4/2023 do Phòng C2 tỉnh An Giang công chứng (đúng như bà C khai ông M, bà B có lăn tay trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T tại quán cà phê “Sen H” tại phiên tòa phúc thẩm), ông T1 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN06955 do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh T2 cấp ngày 03/7/2023. Nên giấy chứng

8

nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích 9.616,2m² (thửa 143 diện tích 4.656m², thửa 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 đã được thu hồi và được cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN06956 diện tích 8.316m² thửa số 143 và diện tích 3.356m², diện tích 4.960m² thuộc thửa 167 do Văn phòng Đ - chi nhánh T2 ký ngày 03/7/2023 (giảm diện tích 1.300m² do đã chuyển nhượng cho ông Lê Trí T1; nên diện tích đất của ông M, bà B còn lại 8.316m²), điều này được chứng minh đó là:

Tại Công văn số 443 ngày 20/11/2024 của Phòng C2 tỉnh An Giang (BL183,184) xác định đã công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003033, số 04/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/4/2023 giữa ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B cho ông Lê Trí T1 đối với diện tích đất 1.300m², nội dung xác nhận của Công văn số 443 ngày 20/11/2024 của Phòng C2 tỉnh An Giang (BL183,184) còn phù hợp công Văn bản số 1287/CNTB-ĐK ngày 25/12/2024 Văn phòng Đ - Chi nhánh T2 xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích 9.616m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B ngày 10/02/2020 đã được thu hồi do tách thửa để chuyển quyền sử dụng diện tích đất 1.300 m² cho anh T1. Diện tích đất còn lại của ông M và bà B đã được cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN06956 do Văn phòng Đ - Chi nhánh T2 cấp ngày 03/7/2023.

Từ phân tích, nhận định trên cho thấy ông M, bà B đã tự nguyện lăn tay trong đồng chuyển nhượng ngày 27/4/2023 để chuyển nhượng diện tích 1.300m² trong diện tích 9.616,2m² do ông M, bà B đứng tên cho ông T1 để khấu trừ khoản nợ do ông B1 nợ ông T và bà L (vì ông T và bà L thỏa thuận chuyển nhượng diện tích 1.300m² cho ông Lê Trí T1). Như vậy, theo quy định Luật Đất đai, thì nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất 1.300m² thuộc diện tích 9.616,2m² cho ông T1 vì Văn phòng Đ - Chi nhánh T2 đã cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN06955 diện tích đất 1.300m² thuộc diện tích 9.616,2m² cho ông T1 đứng tên ngày 03/7/2023, nên diện tích đất 1.300m² là tài sản hợp pháp của ông T1, do đó, ông T1 chuyển nhượng hay tặng cho ai đối với diện tích đất 1.300m² là quyền của ông T1. Tại cấp sơ thẩm ông M, bà B không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 1.300m² với ông T1, nên Tòa sơ thẩm không đưa người nhận chuyển nhượng diện tích đất 1.300m² của ông T1 tham gia tố tụng là đúng pháp luật.

Từ căn cứ pháp lý viện dẫn nên trên cho thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích 9.616,2m² (thửa 143 diện tích 4.656m², thửa 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 không còn giá trị pháp lý, vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03912 diện tích 9.616,2m² (thửa 143 diện tích 4.656m², thửa 167 diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 đã bị thu hồi theo quy định pháp luật và cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

9

số CN06956 diện tích 8.316m² (thửa số 143 diện tích 3.356m², thửa 167 diện tích 4.960m²) do Văn phòng Đ - chi nhánh T2 cấp cho ông M, bà B đứng tên ngày 03/7/2023 (giảm diện tích 1.300m² đã chuyển nhượng cho ông Lê Trí T1; diện tích 8.316m²/diện tích 9.616,2m²).

Như vậy, theo quy định Luật Đất đai, thì nhà nước chỉ thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích 8.316m² (thửa số 143 diện tích 3.356m², thửa 167 diện tích 4.960m²) cho ông M, bà B đứng tên ngày 03/7/2023, do đó việc ông M, bà B yêu cầu ông T, bà L, ông T1 và ông B1 giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B đứng tên ngày 10/02/2020 cho ông M, bà B là không có căn cứ.

[3] Tòa sơ thẩm đã xem xét toàn diện chứng cứ tại hồ sơ vụ án tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông M và bà B về việc yêu cầu ông B1, ông T, bà L và ông T1 giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính) diện tích 9.616m² (thửa số 143 diện tích 4.656m² và thửa số 167diện tích 4.960m²) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho M và bà B đứng tên ngày 10/02/2020; Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông M, bà B về việc không yêu cầu ông T và bà L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS03913 diện tích 2.423,4m² là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Ông M, bà B, bà C (đại diện cho ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B) kháng cáo, nhưng không cung cấp được chứng cứ mới có giá trị chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông M, bà B, bà C, giữ nguyên bản án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là đúng pháp luật.

[5] Về án phí phúc thẩm: Ông M, bà B không phải chịu án phí phúc thẩm (đối tượng người cao tuổi).

[6] Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm đã tuyên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phúc xử:

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn M, bà Nguyễn Thị B, bà Trần Thị C.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm: 01/2025/DS-ST ngày 20/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

10

Căn cứ vào Điều 105, 158, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019; Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu ông Trần Thanh B1, ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L và ông Lê Trí T1 cùng có trách nhiệm trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 9.616m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ GCN: CS03912, thửa số 143, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.656m² và thửa số 167, tờ bản đồ số 31, diện tích 4.960m², tọa lạc khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B.

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B về việc yêu cầu ông Hứa Huy T và bà Trần Thị L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CS03913, diện tích 2.423,4m², tọa lạc tại khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang do Sở T cấp ngày 10/02/2020 cho ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B.

- Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm; Ông Hứa Huy T, bà Trần Thị L, ông Trần Thanh B1 và ông Lê Trí T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị B không phải chịu án phí phúc thẩm (đối tượng người cao tuổi).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tịnh Biên;
  • - TAND thị xã Tịnh Biên;
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên;
  • - Tòa dân sự;
  • - Phòng TTr-KT-THA;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 135/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger