Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/DS-PT

Ngày 06-6-2025

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 62/2025/TLPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu, yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất, yêu cầu hưởng công sức gìn giữ, tôn tạo, quản lý di sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 63/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Dư Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Dư Thị T: Ông Phạm Minh L là Luật sư của Văn phòng L6 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1959; địa chỉ ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị R: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1992; địa chỉ số A, Quốc lộ F, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 08 tháng 11 năm 2023) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Dư Thị P, sinh năm 1968; địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  2. Bà Dư Thị L1, sinh năm 1970.
  3. Người đại diện theo ủy quyền của bà Dư Thị L1: Bà Dư Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 7 năm 2024) (có mặt).

  4. Ông Dư Văn T1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
  5. Bà Dư Thị T2, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  6. Bà Dư Thị C, sinh năm 1988 (vắng mặt).
  7. Ông Dư Văn D, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  8. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1954.
  9. Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L2: Bà Dư Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 27 tháng 3 năm 2024 (có mặt).

  10. Bà Dư Thị T3, sinh năm 1977.
  11. Bà Dư Thị Đ, sinh năm 1980.
  12. Ông Dư Văn B, sinh năm 1981.
  13. Bà Dư Thị P1, sinh năm 1987.
  14. Ông Dư Văn D1, sinh năm 1984.
  15. Bà Dư Thị H, sinh năm 1990; cùng địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  16. Người đại diện theo ủy quyền của bà Dư Thị T3, bà Dư Thị Đ, ông Dư Văn B, bà Dư Thị P1, ông Dư Văn D1 và bà Dư Thị H: Bà Dư Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 29 tháng 7 năm 2024 (có mặt).

  17. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984 (vắng mặt);
  18. Cháu Dư N1, sinh năm 30/8/2005 (vắng mặt);
  19. Cháu Dư Chấn H1, sinh năm 30/8/2010 (vắng mặt); cùng địa chỉ ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  20. Bà Dư Thị Thu T4, sinh năm 1982; địa chỉ Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  21. Ông Cao Văn L3, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  22. Ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1951 (có mặt).
  23. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1968 (vắng mặt).
  24. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1970 (vắng mặt); cùng địa chỉ ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Dư Thị T trình bày: Cha của bà Dư Thị T là ông Dư Văn L4, sinh năm 1919 (chết năm 2008) và mẹ của bà T là bà Phan Thị H2, sinh năm 1922 (chết năm 1986). Cha mẹ bà có tất cả 05 người con gồm bà Dư Thị T, ông Dư Văn T6 (chết năm 2020), ông Dư Văn L5 (chết năm 2007), bà Dư Thị M1 (chết năm 1970) và Dư Văn Đ1 (chết năm 2021). Lúc còn sống cha và mẹ của bà có 02 thửa đất, thửa đất số 442, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.856m² và thửa đất số 444, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.893m², đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ngoài ra cha mẹ bà không còn di sản nào khác. Sau khi ông Dư Văn L4 chết (năm 2008) thì ông Dư Văn Đ1 tạm quản lý, sử dụng 02 thửa đất trên. Bà Dư Thị T có yêu cầu chia thừa kế di sản của cha mẹ để lại nhưng bà Nguyễn Thị R (là vợ ông Dư Văn Đ1) không đồng ý. Bà R cho rằng ông Dư Văn L4 có để lại di chúc để lại toàn bộ di sản cho cháu nội là Dư Thiện V1 được hưởng. Nay bà Dư Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc đề ngày 21 tháng 4 năm 1997 là không có hiệu lực do ông Dư Văn L4 không biết chữ nhưng di chúc không có người làm chứng, thời điểm lập di chúc ông Dư Văn L4 bị bệnh nặng, tinh thần không minh mẫn, bà Dư Thị T yêu cầu được hưởng thừa kế đối với di sản là thửa đất số 442, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.856m², bà T yêu cầu được hưởng 971,2m², thửa đất số 444, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.893m², bà T yêu cầu được hưởng 978,6m², đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bà đồng ý để lại chia thừa kế theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị R phần thừa kế của ông Dư Văn Đ1.

Bị đơn bà Nguyễn Thị R do ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện theo ủy quyền trình bày: bà Nguyễn Thị R thống nhất về hàng thừa kế và di sản thừa kế của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 như bà T trình bày. Tuy nhiên khi còn sống ông Dư Văn L4 có lập di chúc vào ngày 21 tháng 4 năm 1997 cho con bà R là Dư Thiện V1. Ông Dư Thiện V1 chết năm 2011 nên hàng của kế của ông V1 gồm có ông Dư Văn Đ1, bà Nguyễn Thị R, vợ con ông V1. Năm 2021 ông Dư Văn Đ1 chết thì bà Nguyễn Thị R và con gái Dư Thị Thu T4 cũng được hưởng một phần di sản từ ông Dư Văn Đ1. Hai thửa đất 444 và 442 bà Nguyễn Thị R và chồng là ông Dư Văn Đ1 quản lý sử dụng từ đó đến nay, bà R có công trong việc quản lý và tôn tạo phần đất, trồng nhiều cây trái, hoa màu và đắp bờ nhiều lần. Hiện tại thửa đất 442 bà R cho bà Dư Thị Đ và ông Cao Văn L3 thuê từ 27 tháng 7 năm 2023 đến ngày 27 tháng 7 năm 2024, mỗi năm gia hạn thời gian thuê một lần. Thửa 444 ông Dư Văn Đ1 và bà R có cầm cố cho bà Dư Thị Đ và ông Cao Văn L3 giá 07 chỉ vàng 24 k (05 chỉ vàng loại 98% và 02 chỉ vàng loại 9999), với thời gian 03 năm (25/6/2019 đến 25/06/2022) tuy nhiên đến nay bà chưa chuộc lại đất. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hợp đồng thuê và hợp đồng cầm cố với bà Dư Thị Đ và ông Cao Văn L3, bà sẽ tự thỏa thuận với bà Đ và ông L3 về hợp đồng này. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Dư Thị T, bà Nguyễn Thị R không đồng ý và có yêu cầu bà Dư Thị T trích chia công sức đóng góp, giữ gìn, tôn tạo đối với 02 thửa đất 442 và 444 bằng 50 % giá trị tài sản. Chia thừa kế cho bà Nguyễn Thị R được hưởng 01 phần thừa kế theo pháp luật của con trai ruột Dư Thiện V1 và chồng Dư Văn Đ1 để lại đối với 02 thửa đất trên. Bà yêu cầu nhận toàn bộ hiện vật, đồng ý hoàn lại giá trị cho hàng thừa kế khác của ông Dư Thiện V1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dư Thị P, bà Dư Thị L1, ông Dư Văn T1, bà Dư Thị T2, bà Dư Thị T3, bà Dư Thị Đ, ông Dư Văn B, bà Dư Thị P1, ông Dư Văn D1, bà Dư Thị H, ông Nguyễn Văn D2, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Văn T5 có yêu cầu được hưởng một phần di sản thừa kế của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 diện tích 323,7m² thuộc 01 phần thửa 442, tờ bản đồ số 7 và diện tích 326,2m² thuộc 01 phần thửa 444, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh và đồng ý để lại phần đất mình được hưởng cho bà Dư Thị T quản lý và sử dụng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dư Thị Đ trình bày: Bà Nguyễn Thị R có cầm cho bà một nền đất và cho bà mướn 01 phần diện tích trước nhà để nuôi tôm. Nay bà Dư Thị T tranh chấp diện tích với bà Nguyễn Thị R bà không có ý kiến hay tranh chấp về hợp đồng thế chấp và hợp đồng thuê đất. Nếu có tranh chấp bà sẽ yêu cầu giải quyết ở vụ kiện khác. Bà thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà T, bà yêu cầu hưởng thừa kế 01 phần từ hàng thừa kế ông Dư Văn L5 và thống nhất để lại phần di sản mình được hưởng cho bà Dư Thị T quản lý sử dụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử: Công nhận thửa đất 444 (diện tích thực đo 2.208,2m²) và thửa đất 442 (diện tích thực đo 4.460 m²), tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là di sản của ông Dư Văn L4 để lại. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dư Thị T. Tuyên bố “Tờ duy chúc” lập ngày 21 tháng 4 năm 1997 là vô hiệu.

Giao cho bà Dư Thị T hưởng phần đất thửa 442, diện tích 2.927,4m² (đất trồng lúa) (gồm các phần đất ký hiệu A1, A3, B1). Giao cho bà Dư Thị T hưởng phần đất và cây trái hoa màu gắn liền với đất thuộc thửa 444, diện tích 962,2m² (Trong đó diện tích đất ở 200m², đất cây lâu năm 762,2m²) (gồm các phần đất ký hiệu B3, C1, C4, D1).

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị R. Giao cho bà Nguyễn Thị R quản lý sử dụng diện tích của hàng thừa kế ông Dư Văn Đ1 thuộc thửa 442, diện tích 1.376,5m², đất trồng lúa (gồm các phần đất ký hiệu B2, D5). Giao cho bà Nguyễn Thị R quản lý sử dụng diện tích và tài sản gắn liền với đất của hàng thừa kế ông Dư Văn Đ1 thuộc một phần thửa 444, diện tích 1.130,9m² (trong đó có diện tích 100m2 đất ở và diện tích 1.030,9m² đất cây lâu năm) (gồm các phần đất ký hiệu D2, D3, D4).

Bà Dư Thị T có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch diện tích tại thửa 442 cho bà Nguyễn Thị R số tiền 4.648.000 đồng (58,1m²x 80.000 đồng/m²). Bà Nguyễn Thị R có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch diện tích tại thửa 444 cho bà Dư Thị T số tiền 51.984.000 đồng (433,2m² x 120.000 đồng/m²).

Công nhận diện tích là 115,1m², thuộc thửa 444 (gồm các phần đất ký hiệu C2, C3, C5) và lối đi vào nền mộ diện tích 156,1m² (thuộc 01 phần thửa 442) là tài sản chung của các đồng thừa kế của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 dùng vào việc thờ cúng. Hàng thừa kế của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 có quyền tới thăm viếng ngôi mộ, không ai được quyền ngăn cản.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về tứ cận, nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 ông Nguyễn Hoàng V là người đại diện hợp pháp của bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Dư Thị T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đứng về phía bà T. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị R.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Dư Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm bảo vệ như sau: Tại thời điểm lập di chúc ông Dư Văn L4 78 tuổi nhưng không có giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế có thẩm quyền để xác định ông Dư Văn L4 minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc, ông Dư Văn L4 không biết chữ và khi lập di chúc thì không có người làm chứng nên không xác định được ông Dư Văn L4 có đọc hoặc nghe đọc và hiểu rõ nội dung của di chúc, đồng thời phần chứng thực của Ủy ban dân xã H, huyện C cũng không thể hiện ông Dư Văn L4 đã hiểu rõ di chúc. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ y bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025 bị đơn bà Nguyễn Thị R kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định cần được chấp nhận.

Xét về tính hợp pháp của di chúc thì theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, tuy nhiên tại thời điểm lập di chúc ông Dư Văn L4 đã 78 tuổi, già yếu, ông Nguyễn Văn H3 cũng có xác nhận vào năm 1997 ông L4 bị bệnh nặng, nằm một chỗ, tinh thần không minh mẫn (BL74), nhưng không có giấy chứng nhận sức khỏe hoặc các giấy tờ khác chứng minh có đủ điều kiện về sức khỏe tại thời điểm lập di chúc và cũng theo khoản 3 Điều 655 và Điều 659 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định di chúc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và chứng thực của Ủy ban nhân dân hoặc chứng nhận của công chứng Nhà nước, trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc được thì có thể nhờ người khác viết nhưng phải có ít nhất 2 người làm chứng người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt của những người làm chứng và người làm chứng xác nhận chữ ký điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc nhưng di chúc trên không có người làm chứng và cũng không xác định được ai là người lập di chúc cho ông L4 lăn tay, trong di chúc không có thông tin để biết để biết người viết hộ là ai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên, bị đơn bà T và bà R đều khai khai ông L4 không biết chữ, lời khai người chứng thực di chúc ông Nguyễn Thành S (BL107) xác định ông Dư Văn L4 có đến Ủy ban nhân dân xã H lập di chúc để lại di sản cho cháu nội là Dư Thiện V1, ông L4 không biết chữ nên lăn tay vào tờ di chúc và ông có chứng thực xác nhận vào tờ di chúc, ông S cho rằng ông L4 minh mẫn tự nguyện lập di chúc không bị ai ép buộc. Tuy nhiên khi lập di chúc ông L4 chỉ lăn tay nên không xác định được ông L4 có đọc hoặc nghe đọc và hiểu nội dung của di chúc hay không, trong di chúc không có thông tin để biết người viết hộ là ai, di chúc không có người làm chứng, hồ sơ không có giấy chứng nhận sức khỏe hoặc các giấy tờ khác chứng minh ông L4 có đủ điều kiện về sức khỏe tại thời điểm lập di chúc. Tòa án sơ thẩm không công nhận tờ di chúc đề ngày 21/4/1997 của ông Dư Văn L4 là hợp pháp và xác định di chúc này là không phù hợp với quy định của pháp luật là có căn cứ. Do bà Phan Thị H2 chết năm 1986, đến năm 2008 ông Dư Văn L4 chết, Tòa án cấp sơ thẩm không thừa nhận di chúc là hợp pháp và nhận định 2 thửa đất 442, 444 là di sản của ông L4 để lại để lại phân chia làm 6 phần cho 05 người trong hàng thừa kế của ông L4 gồm 05 người con và 01 phần cho bà R, ông Đ1 do có công sức giữ gìn, quản lý và tôn tạo di sản.

Bị đơn bà Nguyễn Thị R yêu cầu trích chia công sức đóng góp, giữ gìn, tôn tạo đối với 02 thửa đất 442 và 444 cho bà R bằng 50% giá trị tài sản là không có căn cứ vì thực tế năm 1997 khi ông L4 bệnh ông Đ1, bà R có công sức, chăm sóc cho cụ L4, khi còn sống, từ khi ông L4 chết năm 2008, bà R và ông Dư Văn Đ1 về sống chung với ông L4, có công quản lý, giữ gìn, cải tạo đất. Năm 2022, ông Đ1 chết, bà R tiếp tục quản lý, thuê xe cuốc cải tạo đắp bờ thửa đất 442 từ đất ruộng thành đất ao nuôi tôm để khai thác, sử dụng. Như vậy bà R, ông Đ1 cũng có công sức trong việc quản lý giữ gìn, tôn tạo và quản lý di sản của của ông L4, tuy nhiên cũng được hưởng huê lợi, lợi ích trong việc quản lý khai thác, sử dụng di sản của ông L4 nên cấp sơ thẩm trích chia tính một phần công sức quản lý di sản cho bà R, ông Đ1 bằng 01 suất thừa kế di sản do ông L4 để lại là có cơ sở.

Theo kết quả thẩm định thì diện tích thực đo của thửa số 444 và thửa số 442 là 6.668,2 m² trong đó thửa 444 là 2.208,2 m² và thửa số 442 là 4.460m². Sau khi trừ phần diện tích làm nền mộ là 115,1m² thuộc thửa số 444 (phần ký hiệu C2, C5, C3) và phần diện tích làm lối đi chung 156,1m² thuộc thửa số 442, phần diện tích còn lại của thửa 444, thửa 442 là 6.409m² là di sản của cụ L4 để phân chia làm 6 phần. Phần của ông L5, ông T6 và bà M1 được hưởng, do hàng thừa kế của ông Dư Văn T6, ông Dư Văn L5, bà Dư Thị M1 đã cho bà Dư Thị T hưởng. Do vậy bà T được hưởng thừa kế bao gồm cả phần của ông T6, ông L5, bà M1. Bà R được hưởng thừa kế bao gồm cả phần của ông Đ1 và công sức quản lý di sản. Từ đó xét thấy cấp sơ thẩm phân chia thừa kế cho các nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan đứng về phía nguyên đơn, bị đơn được hưởng và trích chia công sức cho bà R là phù hợp. Bản án sơ thẩm có căn cứ, đúng pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị R. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Thị R kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị R kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dư Thị T và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị R tuyên bố di chúc của ông Dư Văn L4 có hiệu lực pháp luật, chia thừa kế cho bà Nguyễn Thị R được hưởng một phần thừa kế theo pháp luật của con là Dư Thiện V1 và chồng là Dư Văn Đ1 đối với thửa đất số 442 và 444, đồng thời trích chia công sức đóng góp, gìn giữ tôn tạo đối với hai thửa đất 442 và 444 bằng 50% giá trị tài sản. Bà Nguyễn Thị R yêu cầu được nhận toàn bộ hiện vật và đồng ý hoàn trả lại giá trị cho hàng thừa kế khác của ông Dư Thiện V1.

Xét thấy ngày 21 tháng 4 năm 1997 ông Dư Văn L4 lập tờ di chúc được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh chứng thực thể hiện nội dung ông Dư Văn L4 để lại tài sản cho cháu nội là ông Dư Thiện V1 gồm đất ruộng 3.700m², 01 căn nhà tạm thời, 01 tủ áo và 01 vuông đất thổ cư cùng một số tài sản trong gia đình.

Xét về tính hợp pháp của di chúc, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 655 của Bộ luật dân sự năm 1995 quy định “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc bị cưỡng ép” đối chiếu với quy định nêu trên thì tại thời điểm lập di chúc, ông Dư Văn L4 đã 78 tuổi nhưng các đương sự không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Dư Văn L4 đủ điều kiện về sức khỏe, minh mẫn, sáng suốt tại thời điểm lập di chúc. Ngoài ra người làm chứng là ông Nguyễn Văn H3 đã xác nhận vào năm 1997 ông L4 bị bệnh nặng, tinh thần không minh mẫn (BL74).

Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện thì bà Dư Thị T, bà Nguyễn Thị R xác định ông Dư Văn L4 không biết chữ, cũng như lời trình bày của ông Nguyễn Thành S là người xác nhận vào tờ di chúc ngày 21 tháng 4 năm 1997 của ông Dư Văn L4 cũng xác định ông Dư Văn L4 không biết chữ nên mới lăn tay vào tờ di chúc. Căn cứ vào khoản 3 Điều 655 Bộ luật dân sự 1995 quy định “Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn”. Căn cứ vào Điều 661 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định “Trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 47 Luật công chứng có quy định “Trường hợp người yêu cầu công chứng không đọc được, không nghe được, không ký điểm chỉ được hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định thì việc công chứng phải có người làm chứng”. Đối chiếu với quy định nêu trên xác định tờ di chúc của ông Dư Văn L4 lập không có người làm chứng nên không xác định được ông Dư Văn L4 có đọc hoặc nghe đọc và hiểu rõ nội dung của di chúc, đồng thời phần chứng thực của Ủy ban dân xã H, huyện C cũng không thể hiện ông Dư Văn L4 đã hiểu rõ di chúc. Án sơ thẩm tuyên bố vô hiệu di chúc của ông Dư Văn L4 lập ngày 21 tháng 4 năm 1997 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét về hàng thừa kế của ông Dư Văn L4 (chết năm 2008) và bà Phan Thị H2 (chết năm 1986) các đương sự xác định hàng thừa kế của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 có 05 người gồm: ông Dư Văn T6 (chết năm 2020), ông Dư Văn L5 (chết năm 2007), bà Dư Thị M1 (chết năm 1970), ông Dư Văn Đ1 (chết năm 2021) và bà Dư Thị T. Bà Phan Thị H2 và Dư Văn L4 không có con riêng hay con nuôi nào khác.

Về di sản thừa kế ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 chết để lại 02 thửa đất 442, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.856m² và thửa đất số 444, tờ bản đồ số 7, diện tích 4.893m², đất tọa lạc ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Các đương sự trong vụ kiện xác định di sản của ông Dư Văn L4 và bà Phan Thị H2 để lại là hai thửa đất nêu trên nên có cơ sở xác định của di sản là thửa 442 và thửa 444.

Căn cứ vào kết quả đo đạc tại sơ đồ khu đất ngày 16 tháng 7 năm 2024 và ngày 26 tháng 02 năm 2025 thửa đất số 442, tờ bản đồ số 7, có diện tích là 4.460 m² và thửa đất số 444, tờ bản đồ số 7, có diện tích là 2.208,2m² các đương sự thống nhất kết quả đo đạc này và đồng ý với diện tích đất còn lại theo hiện trạng (phần đất chênh lệch giảm này cũng được cấp sơ thẩm làm rõ là do mở rộng rạch và chênh lệch giữa hai tài liệu đo đạc), án sơ thẩm xem xét giải quyết chia thừa kế đối với diện tích đất nêu trên là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Qua thực tế khảo sát, trên phần đất thửa 444 có các phần mộ trên đất nên các đương sự thống nhất trừ phần đất mộ là 115,1m² để đảm bảo việc tới lui thăm viếng, chăm sóc mồ mã của ông bà và các đương sự cũng thống nhất chừa lối đi ở phần đất thửa 442 là 156,1m2, diện tích còn lại của thửa 442 là 4.303,9m2, diện tích còn lại của thửa 444 là 2.093,1m².

Đối với yêu cầu công sức gìn giữ tôn tạo di sản thừa kế, xét thấy sau khi ông Dư Văn L4 chết thì phần đất này do bà Nguyễn Thị R và ông Dư Văn Đ1 quản lý, sử dụng. Trong quá trình quản lý, sử dụng, ông Dư Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị R có công sức tôn tạo, quản lý di sản và thờ cúng ông L4, bà H2 nên án sơ thẩm xem xét công sức này tương đương với một suất thừa kế là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy phần di sản của ông Dư Văn L4 được chia theo pháp luật và chia thành 06 phần thừa kế cụ thể như sau:

Đối với thửa 442 mỗi suất thừa kế là 717,3m² (4.303,9m²:6), đối với thửa 444 mỗi suất thừa kế là 348,85m² (2.093,1m²:6), trong đó có 50m2 đất ở và 298,85m² đất cây lâu năm. Bản án sơ thẩm căn cứ vào phần thừa kế nêu trên và sơ đồ khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xem xét cho bà Dư Thị T hưởng phần thửa 442 diện tích 2.927,4m² (có ký hiệu là A1, A3, B1) và thửa 444 diện tích 962,2m² (có ký hiệu là B3, C1, C4 và D1). Hàng thừa kế của ông Dư Văn Đ1 là bà Nguyễn Thị R được hưởng diện tích 1.376,5m² tại thửa 442 (có ký hiệu là B2) và diện tích 1.130,9m² tại thửa 444. Do phần diện tích tại thửa 442 bà Dư Thị T nhận đất thực tế lớn hơn diện tích được chia thừa kế là 58,1m² (717,3m²x 2 - 1.376,5m²) nên bà T có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị R số tiền 4.648.000 đồng (80.000 đồng x 58,1m²). Do phần diện tích tại thửa 444 bà Nguyễn Thị R nhận thực tế đo đạc lớn hơn diện tích được chia thừa kế là 433,2m² (1.130,9m² – 348,85m² x 2) nên bà Nguyễn Thị R có trách nhiệm giao trả lại cho bà Dư Thị T số tiền 51.984.000 đồng (433,2m² x 120.000 đồng).

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị R, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận, chấp nhận đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị R. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị R là người cao tuổi có đơn xin miễn phí đúng quy định của pháp luật nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 612, 613, 651 và Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị R. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2025/DS-ST ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu, tranh chấp về thừa kế và yêu cầu công sức gìn giữ, tôn tạo, quản lý di sản giữa nguyên đơn bà Dư Thị T với bị đơn bà Nguyễn Thị R.

Tuyên xử:

  1. Công nhận thửa đất 444 (diện tích thực đo 2.208,2m²) và thửa đất 442 (diện tích thực đo 4.460m²), tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là di sản của ông Dư Văn L4.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dư Thị T, tuyên bố “Tờ duy chúc” ngày 21 tháng 4 năm 1997 là vô hiệu.
  3. Giao cho bà Dư Thị T hưởng phần đất thửa 442, diện tích 2.927,4m², đất trồng lúa (có ký hiệu là A1, A3, B1), đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, phần đất có vị trí, tứ cận như sau:

    Phía Đông giáp thửa 441 có kích thước 9,72m; 9,30m; 8,70m;

    Phía Tây giáp rạch có kích thước 7,52m; 6,21m; 7,00m;

    Phía Nam giáp 442 (B2) có kích thước 118,26m;

    Phía Bắc giáp thửa 369 và thửa 370 có kích thước 11,35m; 9,46m; 16,87m; 2,76m; 83,01m;

    Giao cho bà Dư Thị T hưởng phần đất và cây trái hoa màu gắn liền thửa 444, diện tích 962,2m² (trong đó diện tích đất ở 200m², đất cây lâu năm 762,2m²) (có ký hiệu là B3, C1, C4, D1), đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, phần đất có vị trí, tứ cận như sau:

    Phía Đông giáp thửa 442 (B2) có kích thước 4,76m; 7,83m; 1,15m; 7,96m; 5,16m; 11,0 m; 5,98m; 7,46m.

    Phía Tây giáp thửa 444 (F2) có kích thước 8,42m; 6,28m; 6,77m; 29,58m;

    Phía Nam giáp thửa 444 (D2) có kích thước 44,31m;

    Phía Bắc giáp thửa 442 (B2) có kích thước 69,88m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 244/CNHCT ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).

  4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị R. Giao cho bà Nguyễn Thị R quản lý sử dụng diện tích của hàng thừa kế ông Dư Văn Đ1 thửa 442, diện tích 1.376,5m², đất trồng lúa (có ký hiệu là B2, D5) đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, phần đất có vị trí, tứ cận như sau:
  5. Phía Đông giáp thửa 442 (E1) có kích thước 21,45m; 2,02m; 8,91m.

    Phía Tây giáp lối đi vào mộ (thửa 442) có kích thước 8,02m; 8,12m; 8,45m; 2,0m; 4,76m;

    Phía Nam giáp lối đi vào mộ (thửa 442) có kích thước 28,40m;

    Phía Bắc giáp thửa 442 (B1) có kích thước 118,26m.

    Giao cho bà Nguyễn Thị R quản lý sử dụng diện tích và tài sản gắn liền với đất của hàng thừa kế ông Dư Văn Đ1 thuộc một phần thửa 444, diện tích 1.130,9m² (trong đó có diện tích 100m² đất ở và diện tích 1.030,9m² đất cây lâu năm) (có ký hiệu D2, D3, D4) đất tọa lạc tại ấp G, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, phần đất có vị trí, tứ cận như sau:

    Phía Đông giáp thửa 443 (E1) có kích thước 26,15m; 2,73m;

    Phía Tây giáp thửa 444 (F3, F4) có kích thước 12,91m; 9,67m;

    Phía Nam thửa 444 (F3) có kích thước 17,30m; 13,81m; 16,72m;

    Phía Bắc giáp thửa 444 (D1) có kích thước 44,31m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 244/CNHCT ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).

  6. Bà Dư Thị T có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch cho bà Nguyễn Thị R số tiền 4.648.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn đồng) (58,1m² x 80.000đồng).
  7. Bà Nguyễn Thị R có trách nhiệm trả giá trị chênh lệch cho bà Dư Thị T số tiền 51.984.000 đồng (Năm mươi mốt triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn đồng) (433,2m² x 120.000đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, về lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Bà Dư Thị T và bà Nguyễn Thị R có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và thực hiện nghĩa vụ về tài chính để làm thủ tục xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích và tư cận theo quyết định của bản án.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị R.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Đắc Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 135/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T-R
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger