|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
|
Bản án số: 135/2024/HS-ST Ngày: 13-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Phúc
Ông Ngô Quang Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Hoàng Thái Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Mộc S (tên thường gọi Sơn T), sinh ngày 08/4/1984 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Nơi thường trú: Tổ A, ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi ở hiện tại: Phòng trọ số 15, Nhà nghỉ H1, ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H, sinh năm 1957 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1960; có vợ là Nguyễn Thị Hằng N, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 02 người con, sinh năm 2009 và năm 2015; tiền án: Không; tiền sự; Không; nhân thân: Ngày 28/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 34/2017/HSST, chấp hành xong bản án vào ngày 11/4/2019; bị tạm giữ ngày 03/4/2024, tạm giam ngày 12/4/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Phương Đ (tên thường gọi Cà P) sinh ngày 21/01/1993 tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: Số C tổ A, đường N, khu phố N, phường V, thành phố R, Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Phạm Ngọc N1, sinh năm 1958; Chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, Kiên Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 08/2015/HSST, chấp hành xong bản án ngày 19/3/2016; ngày 10/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiên Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 25/4/2019; bị tạm giữ ngày 03/4/2024, tạm giam ngày 12/4/2024 đến nay (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 3/2024, Bùi Mộc S đến thuê phòng trọ số 15, Nhà nghỉ H1 thuộc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang để ở và đến xin làm nhân viên quản lý Cano nước cho khu du lịch H. Sau khi thuê được chỗ ở và xin được việc làm, S về thăm gia đình tại tỉnh Vĩnh Long và đến nhà người bạn tên T2 ở xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua gà đá đem ra xã L, huyện K bán lại, T2 cho biết không còn gà và rủ S ở lại nhậu. Sau khi nhậu xong, S đi bộ về nhà, khi đến đoạn đường vắng (không có nhà chỉ có vườn cây) S dừng lại để đi vệ sinh thì phát hiện bên vệ đường có 01 (một) bọc xốp màu đen, S nhặt lên mở ra thấy bên trong có 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, bên trong ổ xoay có 05 (năm) viên đạn, S gói lại và đem về cất giấu dưới đám cỏ trong vườn mít phía sau nhà. Khoảng 02 ngày sau, S đến nơi cất giấu lấy khẩu súng, đạn để vào ba lô quay lại phòng trọ số 15, Nhà nghỉ H1 thuộc ấp B, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang và đem khẩu súng, đạn ra cất giấu dưới đống giấy phế liệu ngoài hành lang bên hông phòng trọ.
Trong quá trình lên mạng xã hội truy cập vào tài khoản facebook “dụng cụ hỗ trợ tự vệ”, S đặt mua khẩu súng rulô ổ xoay màu trắng bạc. Qua trao đổi, S được bên bán cho biết giá bán khẩu súng là 2.000.000đ, nếu đồng ý mua thì cung cấp thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ nơi nhận. S đồng ý cung cấp thông tin và số điện thoại của S là 0939.916.xxx (chưa đăng ký chính chủ). Khoảng 05 ngày sau, nhân viên giao hàng (không nhớ đặc điểm nhận dạng và là người của dịch vụ chuyển phát nhanh nào) đến xã L giao cho S một hộp giấy, S lấy 2.000.000₫ trả tiền đơn hàng và 30.000đ tiền phí vận chuyển trả cho nhân viên giao hàng. Sau đó, S mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 (một) khẩu súng rulô ổ xoay bằng kim loại màu trắng bạc, trong ổ xoay có 06 (sáu) viên đạn, S đem về phòng trọ lấy túi nylon bỏ vào, cột lại và đem ra cất giấu ngoài hành lang bên hông phòng trọ.
Do đã đặt mua khẩu súng và thấy không cần thiết phải cất giữ khẩu súng đã nhặt được tại Vĩnh Long nên trước khi đến quán cà phê “Cao Zi” tại ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang Sơn đến chỗ phòng trọ lấy khẩu súng có 05 viên đạn (được quấn trong túi nylon màu đen) rồi sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Blade, màu đen xám biển kiểm soát số 59K1-882.15 đến quán “Cao Zi” gặp Nguyễn Văn Phương Đ, kêu Đ ra ngoài và cho biết có khẩu súng nhờ Đ cất giữ dùm, Đ đồng ý, S lấy khẩu súng đưa cho Đ. Sau khi S về, Đ mở túi nylon ra xem thấy bên trong có 01 (một) khẩu súng rulô ổ xoay, bằng kim loại, màu đen, Đ cuốn túi nylon lại và đem đến cất giấu dưới bụi chuối gần cổng Trung tâm văn hóa cộng đồng xã L.
Đến khoảng 21 giờ, ngày 02/4/2024, Bùi Mộc S cùng với Vũ Văn S1 và Nguyễn Văn Phương Đ đến Trung tâm Văn hóa thể thao và học tập cộng đồng xã L thuộc ấp T, xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang để tổ chức nhậu. Trong lúc nhậu, Bùi Mộc S xảy ra mâu thuẫn với Vũ Văn S1 và Nguyễn Văn Phương Đ thì được mọi người tại đây can ngăn. Do bực tức, Bùi Mộc S bỏ ra ngoài lấy xe mô tô biển kiểm soát số 59K1-882.15 chạy về Nhà nghỉ H1 lấy khẩu súng nhét vào túi quần rồi quay lại, khi đến cổng Trung tâm Văn hóa thể thao và học tập cộng đồng thì thấy Đ đi ra, Bùi Mộc S móc súng ra hướng lên trời nói với Đ “tin tao bắn mày không” rồi cất khẩu súng vào túi quần. Do thấy S có súng và nhớ lại mấy ngày trước S có gửi khẩu súng cho mình và đang cất giấu tại bụi chuối trước cổng Trung tâm V nên Đ chạy đến lấy khẩu súng cầm trên tay quay lại gặp S và nói “anh bắn em đi” thì được mọi người can ngăn, thấy vậy Bùi Mộc S chạy đến giật khẩu súng của Đ đem về nơi thuê trọ cất giấu dưới đống giấy phế liệu bên hông hành lang nhà trọ.
Đến sáng ngày 03/4/2024, Bùi Mộc S đến Công an xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang đầu thú và tự nguyện giao nộp 02 (hai) khẩu súng, 09 (chín) viên đạn và 01 (một) con dao tự chế. Tiến hành khám xét phòng trọ và hiện trường của lực lượng Công an phát hiện, thu giữ 02 (hai) viên đạn.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu đen, trên thân súng có dòng chữ ZP-5 MADE IN CHINA XIAO YUE LIANG.
- - 01 (một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu bạc trên trên thân súng có dòng chữ ZP-5 MADE IN CHINA.
- - 11 (mười một) viên đạn màu vàng đồng, trong đó có 06 (sáu) viên đã bắn thực nghiệm không hoàn trả.
- - 01 (một) cây dao tự chế chứa bên trong thanh gỗ bên trên có vẽ các đường hoa văn hình rồng, chiều dài 25cm x 2,5cm rỗng phần ruột, mở ra bên trong có chứa 02 (hai) lưỡi dao mũi nhọn bằng kim loại màu trắng, kích thước dài 23cm, phần cán cầm bằng gỗ dài 12cm x 2,5cm, phần lưỡi dài 12,2cm, nơi rộng nhất 2cm, nơi hẹp nhất 0,1cm.
- - 01 (một) ba lô quai xách màu đen.
* Tại Kết luận giám định số 2318/KL-KTHS, ngày 08/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1, kết luận:
- - 02 (hai) khẩu súng gửi giám định nguyên là súng đồ chơi nguy hiểm được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm. Hiện tại 02 (hai) khẩu súng nêu trên bắn được đạn nổ và có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng thuộc vũ khí quân dụng.
- - Sử dụng súng và đạn nêu trên bắn vào cơ thể người sẽ gây sát thương hoặc gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe.
* Tại Kết luận giám định số 4122/KL-KTHS, ngày 17/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1, kết luận: 05 (năm) viên đạn gửi giám định là đạn cỡ (5,6x15,5)mm, thuộc vũ khí thể thao không phải là vũ khí quân dụng. Loại đạn này thường sử dụng để bắn cho một số loại súng quân dụng, súng thể thao như: súng ám sát hình bút, K55, TOZ8...và một số súng chế tạo thủ công có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.
Tại bản Cáo trạng số: 47/CT - VKSTKG-P1, ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Bùi Mộc S về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn Phương Đ về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015, sửa đội, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
- - Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Bùi Mộc S, Nguyễn Văn Phương Đ.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Mộc S phạm tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo S từ 30 đến 36 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phương Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Đ từ 18 đến 24 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu đen, trên thân súng có dòng chữ ZP-5 MADE IN CHINA XIAO YUE LIANG và 01(một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu bạc trên trên thân súng có dòng chữ ZP-5 MADE IN CHINA.
- - Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) viên đạn màu vàng đồng; 01 (một) cây dao tự chế chứa bên trong thanh gỗ, bên trên có vẽ các đường hoa văn hình rồng, chiều dài 25cm x 2,5cm, rỗng phần ruột, mở ra bên trong có chứa 02 (hai) lưỡi dao mũi nhọn bằng kim loại màu trắng, kích thước dài 23cm, phần cán cầm bằng gỗ dài 12cm x 2,5cm, phần lưỡi dài 12,2cm, nơi rộng nhất 2cm, nơi hẹp nhất 0,1cm và 01 (một) ba lô quai xách màu đen.
* Các bị cáo Bùi Mộc S, Nguyễn Văn Phương Đ có ý kiến thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị các cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Mộc S, Nguyễn Văn Phương Đ khai nhận đã thực hiện hành vi tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: Khoảng tháng 3 năm 2024, khi đi vệ sinh ven đường thuộc địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Bùi Mộc S nhặt được 01 (một) khẩu súng ngắn bằng kim loại màu đen, bên trong ổ xoay có 05 (năm) viên đạn, sau đó đem về huyện K, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Sau đó một thời gian, S lên mạng xã hội truy cập vào tài khoản facebook “dụng cụ hỗ trợ tự vệ” đặt mua thêm 01 khẩu súng rulô ổ xoay màu trắng bạc giá 2.000.000₫ đem về cất giấu tại nơi ở. Do đã đặt mua khẩu súng khác và thấy không cần thiết phải cất giữ khẩu súng đã nhặt được tại Vĩnh Long, nên S nói với Nguyễn Văn P1 Đông là có khẩu súng nhờ Đ cất giữ dùm, Đ đồng ý và nhận từ S 01 (một) khẩu súng rulô ổ xoay, bằng kim loại, màu đen, đem đến cất giấu dưới bụi chuối gần cổng Trung tâm văn hóa cộng đồng xã L. Ngày 02/4/2024, giữa S và Đ xảy ra mâu thuẫn, cả hai đem súng ra dùng lời nói đe dọa nhau, S lấy lại khẩu súng đã nhờ Đ cất giữ dùm trước đó. Đến ngày 03/4/2024, S đem 02 khẩu súng đến Công an xã L, huyện K, tỉnh Kiên Giang đầu thú. Kết quả giám định xác định 02 khẩu súng trên có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng thuộc vũ khí quân dụng. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo giai đoạn trình điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; kết luận giám định... Từ đó có cơ sở để kết luận hành vi bị cáo Bùi Mộc S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự và hành vi bị cáo Nguyễn Văn Phương Đ thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước, tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe người khác và gây ra các hậu quả xấu khác cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.
Trong vụ án này, bị cáo S giữ vai trò chính, thực hiện 02 hành vi phạm tội là tàng trữ và mua bán trái phép vũ khí quân dụng. Bị cáo Đ là đồng phạm giúp sức cho bị cáo S đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo S thực hiện 02 lần hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, nên có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt từng bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng tính chất, mức độ và vai trò phạm tội của từng bị cáo, để có thời gian giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định xử lý các vật chứng liên quan đến vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêu trên.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu đen, trên thân súng có ký hiệu ZP-5 MADE IN CHINA XIAO YUE LIANG XYL 23067840 SMITH & WESSON và 01(một) khẩu súng ngắn loại súng rulô ổ xoay bằng kim loại, màu trắng bạc, trên thân súng có ký hiệu ZP-5 MADE IN C2 (Cơ quan điều tra Công an tỉnh K đã giao cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K theo biên bản giao nhận ngày 22/7/2024).
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) túi niêm phong, ký hiệu NS2, mã số NS2: 2102696, bên trong gồm có: 01 (một) dao tự chế chứa bên trong thanh gỗ bên trên có vẽ các hoa văn hình rồng chiều dài 25cm x 2,5cm rỗng phần ruột, mở ra bên trong có chứa 02 (hai) lưỡi dao mũi nhọn bằng kim loại màu trắng, kích thước dài 23cm, phần cán cầm bằng gỗ dài 12cm x 2,5cm, phần lưỡi dài 12,2cm, nơi rộng nhất 2cm, nơi hẹp nhất 0,1cm.
- + 01 (một) phong bì niêm phong màu trắng, bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Dương Quang L và bị can Bùi Mộc S, dấu đóng giáp lai mộc tròn màu đỏ của Cơ quan an ninh điều tra - Công an tỉnh K, bên trong gồm có: 05 (năm) viên đạn bắng kim loại, mỗi viên dài 2,5cm, vỏ đạn màu vàng, đầu đạn đồng đỏ, đít đạn cùng ký hiệu C.
- + 01 (một) ba lô quai xách màu đen, đã cũ, trên ba lô có in hình con gấu màu trắng hồng, có dòng chữ LOTSO.
- Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Bùi Mộc S, Nguyễn Văn Phương Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 13/11/2024).
Tuyên bố bị cáo Bùi Mộc S (tên thường gọi Sơn T) phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”
Xử phạt bị cáo Bùi Mộc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/04/2024).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Phương Đ (tên thường gọi Cà P) phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phương Đ 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/04/2024).
(Các vật chứng trên, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số 38/QĐ-VKS-P1 ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 13/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về hình sự sơ thẩm (tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng)
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bui Mộc S mua súng...
