TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU Bản án sô: 135/2024/HNGĐ-ST Ngày 04 tháng 9 năm 2024 “V/v xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng
Bà Hồ Lệ Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như – Là thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 222/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc yêu cầu xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 282/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị D, sinh năm 1988 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp 7, xã TL, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã TP, huyện TB, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày tại đơn khởi kiện như sau:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Thanh L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TL, huyện TB, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/6/2011. Trong thời gian chung sống đến nay hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, xung đột gia đình xãy ra không hàn gắn được. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp nhau. Nên chị và anh L đã ly thân khoảng 01 tháng nay. Chị xác định hiện vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh L.
Về con chung: Chị và anh Ly có 01 con chung tên Trần Bảo H, sinh ngày 21/5/2013, con đang sống cùng anh L. Khi ly hôn chị yêu cầu giao cháu H cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị xác định chị và anh L không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai chị và anh L không có nợ chung.
Đối với anh Trần Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Trương Thị D và anh Trần Thanh L được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh Trần Thanh L có nơi cư trú tại xã TP, huyện TB nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trương Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trần Thanh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D, anh L theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Trương Thị D và anh Trần Thanh L xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện TB theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Hiện chị D yêu cầu xin ly hôn với anh L. Theo lời trình bày của chị D do vợ chồng sống không hợp nhau, và có nhiều mâu thuẫn, nên anh chị đã ly thân khoảng 01 tháng nay. Đồng thời, suốt thời gian chị D xin ly hôn anh L cũng không đến Toà án để hoà giải hoặc có văn bản gửi ý kiến đến Toà án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống chung giữa chị D và anh L mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện chị D và anh L đã ly thân, mỗi người đã có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc ai. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận lời trình bày và yêu cầu của chị D về việc xin ly hôn với anh L.
[4] Về con chung: Chị D và anh L có 01 con chung tên Trần Bảo H, sinh ngày 21/5/2013, con đang sống cùng anh L. Khi ly hôn chị D yêu cầu giao cháu H cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Hân hiện đang sống cùng anh L tại ấp 7, xã TL, chị D đi lao động tại tỉnh khác. Nên để đảm bảo việc học tập của cháu Hân nên tiếp tục giao cháu H cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D có ý kiến không cấp dưỡng anh L vắng mặt cũng không có văn bản ý kiến đến Toà án yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Chị D không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung: Chị D khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Chị D khai không nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị D phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 207, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị D về việc xin ly hôn với anh Trần Thanh L.
Về con chung: Giao con chung tên Trần Bảo H, sinh ngày 21/5/2013 đang sống cùng anh L cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét.
Chị D không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung; nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, chị Trương Thị D phải chịu. Chị D đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0016356 vào ngày 22/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ, chị D đã nộp đủ.
Tùng hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Trương Thị D và anh Trần Thanh L quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Kim Cương |
Bản án số 135/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH về xin ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 135/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị D xin ly hôn với Trần Thanh L
