Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng;

Ông Nguyễn Thoại .

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hòa G, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1999, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Nguyễn Đình S và con bà Phạm Thị Thu T; hiện trú tại: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có bốn người con, bị cáo là con thứ nhất; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/01/2018, bị Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/6/2024, sau đó được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có ma túy sử dụng và bán lại kiếm lời, Nguyễn Thị Hòa G liên lạc với nam thanh niên có nick Zalo "H đẹp trai” (không rõ, lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 50 viên ma túy. Đến khoảng 16 giờ ngày 06 tháng 6 năm 2024, G đi đến khu vực cầu Ở (thuộc khu phố F, phường C, thành phố Đ) gặp nam thanh niên trên nhận 50 viên ma túy và giao số tiền 1.200.000 đồng. Sau khi có ma túy, G đưa về nhà cất giấu vào 02 đoạn ống nhựa (01 đoạn 35 viên và 01 đoạn 15 viên).

Từ ngày 06/06/2024 đến khoảng 13 giờ ngày 07/06/2024, Nguyễn Thị Hòa G lấy ma túy từ trong hai đoạn ống nhựa ra sử dụng. Đến 14 giờ ngày 07/06/2024, Nguyễn Lương N liên lạc qua điện thoại với G hỏi mua 10 viên ma túy hồng phiến, G đồng ý bán với giá 250.000 đồng, hưởng lợi 50.000 đồng. G cho số ma túy còn lại vào trong 03 đoạn ống nhựa (mỗi đoạn ống chứa 10 viên), còn lại một số viên lẻ G để ở ngoài sử dụng. Khi đã nhận được tiền 250.000 đồng do N chuyển khoản qua ứng dụng MoMo, G lấy 01 đoạn ống nhựa chứa 10 viên ma túy xuống nhà đặt trước trụ cổng nhà và báo cho N đến lấy. Tiếp đó, G đi lên phòng ngủ ở tầng 2 lấy các viên ma túy lẻ sử dụng hết.

Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi thấy lực lượng Công an đến kiểm tra, G đã ném 01 đoạn ống nhựa chứa 10 viên ma túy ra khu vực đất trống ở sau nhà và cho miếng kẽm làm dụng cụ sử dụng ma túy vào bồn cầu. Lực lượng Công an kiểm tra phòng ngủ của G ở tầng 2, phát hiện tại giỏ đựng đồ để cạnh giường G đang ngồi có 01 đoạn ống nhựa bên trong có 10 viên ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, G đã giao nộp cho Cơ quan Công an đoạn ống nhựa chứa 10 viên ma túy hồng phiến ở khu vực đất trống phía sau nhà để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng dài 08 cm, hai đầu ống nhựa được dán kín; bên trong có nhiều viên nén màu hồng, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “Ma túy G” (thu giữ trong quá trình bắt quả tang);
  • + 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, dài 7,5 cm, hai đầu ống nhựa được dán kín; bên trong có nhiều viên nén màu hồng, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “MTGN” (do Nguyễn Thị Hòa G giao nộp);
  • + 01 (một) điện thoại di động N1, loại bàn phím số màu đen; bên trong có gắn thẻ sim mobiphone, trên bề mặt thẻ sim có dãy số: 8401221233211065, số thuê bao 0787 707 474;
  • + 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng màu bạc, mặt sau in hình trái táo bị khuyết, bên trong có gắn thẻ sim V có dãy số: 898404800336964631, số thuê bao: 0978 537 252.

Tại bản Kết luận giám định số 691/KL-KTHS ngày 14/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

  • + 10 viên nén màu hồng gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “Ma túy G” là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,9458 gam.
  • + 10 viên nén màu hồng gửi đến giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “MTGN” là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,9125gam.

Cáo trạng số 132/CT-VKSĐH ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hòa G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hòa G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hòa G từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu mã số QTS.MT657-PC04, có đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • - 01 điện thoại di động N1, loại bàn phím số màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu bạc của bị cáo dùng vào việc liên lạc bán trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Truy thu ở bị cáo số tiền 250.000 đồng do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:

Vào ngày 06/6/2024, tại khu vực cầu Ở (thuộc khu phố F, phường C, thành phố Đ), Nguyễn Thị Hòa G đã có hành vi mua của một thanh niên (Không rõ lai lịch, địa chỉ) 50 viên ma túy với giá 1.200.000 đồng nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời. Ngày 07/6/2024, G bán 10 viên ma túy cho Nguyễn Lương N với giá 250.000 đồng, hưởng lợi 50.000 đồng. G đã sử dụng hết 20 viên ma túy, số ma túy còn lại là 20 viên Methamphetamine có khối lượng 1,8583 gam G cất giấu mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Hòa G đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.

[3] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo. Sau khi bị bắt quả tang, Nguyễn Thị Hòa G tự nguyện giao nộp số ma túy tại khu vực bãi đất trống sau nhà và tự khai nhận về hành vi bán ma túy cho Nguyễn Lương N nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, tự thú quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu mã số QTS MT657-PC04, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người tham gia niêm phong. Ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động N1, loại bàn phím số màu đen và 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu bạc, bị cáo dùng liên lạc mua bán ma tuý, nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Truy thu ở bị cáo số tiền 250.000 đồng do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.

[7] Về các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

  • - Đối với nam thanh niên bán ma túy cho G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tiến hành các hoạt động điều tra nhưng chưa xác định được nên không có cơ sở xử lý.
  • - Nguyễn Lương N có hành vi mua ma túy từ Nguyễn Thị Hòa G nhằm mục đích sử dụng, tuy nhiên do sợ người thân phát hiện nên N đã tiêu hủy số ma túy trên, kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể N âm tính với các chất ma túy nên không có cơ sở xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hòa G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hòa G 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy:
  • Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong ký hiệu mã số QTS MT657-PC04, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của những người tham gia niêm phong.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
  • - 01 (một) điện thoại di động N1, loại bàn phím số màu đen.
  • - 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu bạc.
  • + Truy thu ở bị cáo số tiền 250.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

Vật chứng trên có đặc điểm như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà. Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Nguyễn Thị Hòa G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP Đông Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - THA hình sự,
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoà G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger