TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:135/2024/HS-ST Ngày 25-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Ngọc Hải
Ông Bùi Văn Khương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 139/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
NMS, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: SỐ A đường B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 9/76 đường E, phường E, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông F (đã chết) và bà G; có vợ là NCK1, sinh năm 1988, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án: Bản án số 47/2017/HSST ngày 14/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 29/2010/HSST ngày 27/5/2010 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ ngày 23/6/2024, chuyển tạm giam ngày 26/6/2024; có mặt.
Người chứng kiến:
- - Chị NCK1, sinh năm 1988; vắng mặt.
- - Chị Phạm Yến Vân, sinh năm 1971; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 23/6/2024 tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực Bệnh viện H thì phát hiện NMS có biểu hiện nghi vấn về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải phía trước NMS đang mặc có 01 túi nilon màu trắng, viền dán màu đỏ, kích thước 06 x 10cm bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (mẫu M1), 01 túi nilon màu trắng viền dán màu đỏ có kích thước 06 x 10cm bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (mẫu M2) và 01 bơm kim tiêm loại 03ml/cc chưa sử dụng. Tổ công tác đã đưa NMS về trụ sở Công an phường Hoàng Văn Thụ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, NMS khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 23/06/2024 NMS một mình đến khu vực đường tàu trên đường I, quận J mua ma túy đá và ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Tại đây, NMS gặp và hỏi mua của 01 người phụ nữ không quen biết 1.000.000 đồng tiền ma túy đá và 1.000.000 đồng tiền ma túy Heroine thì được người phụ nữ này đưa lại cho NMS 02 gói nilon màu trắng trong chứa ma túy. NMS nhận và cất 02 gói nilon chứa ma túy trên vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về Bệnh viện H. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi NMS đang ở trong phòng 405 Khoa sản 1 Bệnh viện H trông vợ đẻ thì bị lực lượng Công an phường Hoàng Văn Thụ kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ tang vật của vụ án.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của NMS tại số 9/76 đường E, phường E, quận D, thành phố Hải Phòng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Xét nghiệm nước tiểu của NMS cho kết quả dương tính với MET và MOP.
Tại bản Kết luận giám định số 826/KL - KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tinh thể màu trắng của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,71 gam, loại Methamphetamine. Chất bột màu trắng của mẫu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,03 gam, loại Heroine”.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Hồng Bàng: 01 phong bì thư dán kín trong có toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của 02 mẫu vật có dấu niêm phong số 826MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
Tại Bản cáo trạng số 114/CT-VKSHB ngày 03/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo NMS về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo NMS với mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 826MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người chứng kiến:
[3] Người chứng kiến chị NCK1, chị Phạm Yến Vân đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa về sự vắng mặt của người chứng kiến. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người chứng kiến.
- Về tội danh:
[4] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người chứng kiến; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ, Kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 23/6/2024, tại khu vực Bệnh viện H thuộc phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, NMS có hành vi cất giấu trái phép 0,71 gam ma túy loại Methamphetamine và 1,03 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do 02 chất ma túy NMS cất giấu được quy định trong cùng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên tổng khối lượng ma túy NMS đã tàng trữ là 1,74 gam. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 23/6/2024), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Do Bản án số 47/2017/HSST ngày 14/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa xóa án tích), nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy tại Bản án số 47/2017/HSST ngày 14/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa xóa án tích); nhân thân: Bản án số 29/2010/HSST ngày 27/5/2010 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích) cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật, không từ bỏ con đường phạm tội, nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải tiếp tục chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, là đối tương nghiện ma túy, con nhỏ mới sinh, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong số 826MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật.
- Về án phí:
[11] Bị cáo NMS phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[12] Bị cáo NMS được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này:
[13] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho NMS, trong quá trình điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo NMS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: NMS 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 826MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo NMS phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo NMS được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |
Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 135/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
