Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Kim Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.
  2. Bà Võ Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa:

  • + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, ghi biên bản phiên toà.
  • + Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Phan Duy Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà:

  • + Tại điểm cầu trung tâm: Ông Lê Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
  • + Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Nhật Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1368/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Tạ Thị N

sinh ngày 03 tháng 8 năm 1957 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; Căn cước công dân số: 07915700**** cấp ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội - Bộ Công an; Nơi thường trú: Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: Phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam;

1

Con ông Tạ Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Ngọc A (chết); Hoàn cảnh gia đình: Gia đình bị cáo có 05 người con, bị cáo là con thứ hai, chồng: Không có, bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1986 đã chết; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02 tháng 01 năm 1976, bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính cưỡng bức lao động 12 tháng; Ngày 24 tháng 4 năm 1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bản án số 610/HSST). Tạ Thị N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 14 tháng 11 năm 1997, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kháng cáo tuyên hủy toàn bộ quyết định của tòa án sơ thẩm, tuyên bị cáo N không phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số: 2232/HSPT); Ngày 11 tháng 9 năm 2012, bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 189/2012/HSST). Ngày 24 tháng 10 năm 2014, đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt, đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03 tháng 01 năm 2024, Tạ Thị N đến khu vực Công viên Lê Văn Tám, đối diện Số 176 Võ Thị Sáu, phường Tân Định, Quận 1 gặp một đối tượng nam (chưa rõ lai lịch) mua 02 gói ma túy Heroin với giá 140.000 đồng, N cầm 02 gói ma túy vừa mua được về nhà Phường Tân Định, Quận 1 và để trên bậc thềm trong nhà bên trái cửa chính để sử dụng sau. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04 tháng 01 năm 2024, các anh Phan Thành D và anh Nguyễn Đăng C (là cán bộ Công an phường Tân Định) cùng anh Trương Lê Quốc H (là cán bộ Đội CSĐTTP về Ma túy Công an Quận 1), tiến hành kiểm tra hành chính nhà Phường Tân Định, Quận 1; dưới sự chứng kiến của anh Nguyễn Nghi L (là Bí thư Đoàn khu phố 4, phường Tân Định, Quận 1) phát hiện 02 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng trên bậc thềm trong nhà bên trái cửa chính (N khai là ma túy của mình mua để sử dụng) nên tổ công tác tiến hành bắt giữ Tạ Thị N cùng các vật chứng cho Công an phường Tân Định, Quận 1 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 xử lý theo thẩm quyền.

Theo Kết luận giám định số: 863/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng Kỹ thuật – Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong 02 gói giấy bạc được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Tạ Thị

2

N và hình dấu Công an phường Tân Định, Quận 1 là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1610 gam Heroin (BL: 162).

Quá trình điều tra, Tạ Thị N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của N phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật; kết luận giám định; xác nhận của N đối với hình ảnh vật chứng thu giữ, lời khai của những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập (BL: 92-100).

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Thiếu tá Phan Thị K, Lê Chí T, ghi vụ 324/24, bên trong chứa 0,1610 gam Heroin.

Thu giữ của Tạ Thị N:

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia có Imei 1: 355776109105672; Imei 2: 355776109605671.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung có Imei 1: 350272258704775/01; Imei 2: 350805488704774/01.

Tất cả các vật chứng trên hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ (BL: 169, 170).

Tại Cáo trạng số: 125/CT-VKSQ1 ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Tạ Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tạ Thị N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Tạ Thị N đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Tạ Thị N từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

  • - Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Thiếu tá Phan Thị K, Lê Chí T, ghi vụ 324/24, bên trong chứa 0,1610 gam Heroin, đề nghị tịch thu và tiêu hủy;
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia có Imei 1: 355776109105672; Imei 2: 35577610960567101 và (một) điện thoại di động hiệu Samsung có Imei 1: 350272258704775/01; Imei 2: 350805488704774/01, là tài sản cá nhân của bị cáo Tạ Thị N, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Tạ Thị N đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì. Về hoàn cảnh gia đình và thu nhập bản thân, bị cáo trình bày bị cáo không đi làm, chỉ ở nhà phụ dọn dẹp giúp các em nên bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định mỗi tháng, bị cáo không có tài sản gì khác. Đồng thời, bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là: Biên bản bắt bị can để tạm giam, biên bản hoạt động điều tra, hình ảnh camera hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc, bản tường trình, bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, kết luận giám định,... nên có căn cứ để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại nhà Số 38/52 đường Trần Khắc Chân, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Tạ Thị N có hành vi cất giữ 0,1610 gam Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Tạ Thị N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và

4

hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh ở địa phương, do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức hình phạt nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bản thân bị cáo có tiền án nhưng đã được xóa án tích, không có tiền sự và tuổi đã cao.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hoàn cảnh nhân thân của bị cáo, bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị là có cơ sở.

[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho Tạ Thị N, qua điều tra chưa rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Thiếu tá Phan Thị K, Lê Chí T, ghi vụ 324/24, bên trong chứa 0,1610 gam Heroin là vật cấm tàng trữ cần tịch thu, tiêu huỷ;

5

  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia có Imei 1: 355776109105672; Imei 2: 35577610960567101 và (một) điện thoại di động hiệu Samsung có Imei 1: 350272258704775/01; Imei 2: 350805488704774/01, là tài sản cá nhân của bị cáo Tạ Thị N, bị cáo dùng liên lạc với gia đình, bạn bè, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 21 và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Tạ Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 01 năm 2024.
  • - Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
  • Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký tên Thiếu tá Phan Thị K, Lê Chí T, ghi vụ 324/24, bên trong chứa 0,1610 gam Heroin.
  • Trả lại cho bị cáo Tạ Thị N 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia có Imei 1: 355776109105672; Imei 2: 35577610960567101 và (một) điện thoại di động hiệu Samsung có Imei 1: 350272258704775/01; Imei 2: 350805488704774/01.
  • (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 85/2024/PNK-THAHS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Công an Quận 1).
  • - Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
  • Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

6

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, TP. HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 1, TP. HCM;
  • - Công an Quận 1, TP. HCM;
  • - Phòng PC 53;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đinh Kim Huệ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger