Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 135/2024/HS-ST

Ngày 12 - 7 - 2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thiêm - Kiểm sát viên.

Phiên tòa được tổ chức theo hình thức trực tuyến với hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Hội trường B Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1997 tại Ninh Thuận. Nơi thường trú: Khu phố 2, phường, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 00/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông: Lê Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 10/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Nhân thân:

  • Ngày 09/5/2014, bị Công an phường Đạo Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
  • Ngày 14/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày 14/8/2014 về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Ngày 29/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 30/2014/HSST ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước buộc T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 05/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Khu phố 4, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  • Anh Nguyễn Thanh Q, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  • Anh Trương Văn N, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Đồng chí Lê Võ Huy T và Mai K là cán bộ, chiến sĩ thuộc Nhà tạm giữ Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT phối hợp Công an phường Văn Hải tiến hành kiểm tra hành chính nhà anh Trương Văn N tại khu phố 1, phường V, thành phố P. Quá trình kiểm tra, Lê Văn T dùng tay phải lấy trong túi áo khoác bên phải ném ra 01 bịch nylon dạng miệng khép dính, bên trên ghi chữ “Nhà thuốc Long Châu”, bên trong có chứa 16 bịch nylon màu trắng hàn kín các đầu, trong mỗi bịch đều chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, ký hiệu M) cách vị trí T ngồi 01 mét, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ tang vật nêu trên. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen.

Quá trình điều tra T khai nhận: Khoảng 01 giờ ngày 03/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T gọi điện thoại cho một thanh niên tên Út (chưa xác định nhân thân, lai lịch) để mua 2.000.000 đồng ma túy đá thì Út đồng ý và hẹn T đến khu vực ngã năm Phủ Hà để giao nhận. Sau khi mua ma túy đá, T đem 16 bịch nylon bên trong có chứa ma túy đá về nhà rồi lấy một ít ma túy đá sử dụng. Đến khoảng 21 giờ ngày 05/01/2024, T cùng Nguyễn Thanh Q đến nhà anh Trương Văn N để ăn nhậu cùng với Nguyễn Thành Đ, khi đi T cất giấu 16 bịch nylon bên trong có chứa ma túy đá trong túi áo khoác của mình. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ngồi ăn nhậu T thấy lực lượng Công an kiểm tra, lo sợ bị phát hiện số ma túy mang trong người nên đã lấy ném ra ngoài thì bị lực lượng Công an bắt phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 34/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, xác định: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng: 6,1979 gam. Hoàn trả đối tượng sau giám định: Khối lượng mẫu vật còn lại sau giám định là: 5,7757 gam và toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Bản Cáo trạng số 117/CT-VKSPRTC ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 06 (sáu) năm tù đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 5,7757 gam chất ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Đây là mẫu vật còn lại sau giám định ma tuý nên đề nghị tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của Lê Văn T, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho T là có cơ sở.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội đã thực hiện, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại nhà của anh Trương Văn N ở khu phố 1, phường V, thành phố P, bị cáo T đã bị lực lượng Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 6,1979 gam chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính và 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình mức án phù hợp cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 5,7757 gam chất ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Đây là mẫu vật còn lại sau giám định ma tuý nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy là có căn cứ.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của Lê Văn T, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

[6] Đối với Trương Văn N, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Thanh Q là những người ăn nhậu chung với bị cáo T, không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là phù hợp. Riêng đối với Q có kết quả kiểm tra ma túy dương tính, xác định Q sử dụng vào thời điểm khác nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với người tên Út đã bán ma tuý cho T, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là 5,7757 gam chất ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài có họ tên chữ ký của Lê Ngọc Thư, Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Lê Đức Nghĩa, Lê Kỳ Kiên và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận.
    • Trả lại cho bị cáo Lê Văn T 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh đen, đã qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm).

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/7/2024).


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. Phan Rang – Tháp Chàm;
  • - Công an TP. Phan Rang – Tháp Chàm;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - CQ THAHS CA. TP. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 135/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger