|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 135/2024/DS-PT Ngày: 31-5-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quang Tấn
Bà Đặng Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 62/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Đồng nguyên đơn:
- Bà Hồ Thúy H, sinh năm 1957.
- Ông Dương Văn C, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, Tp.Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Địa chỉ: Tổ E, ấp S, xã D, Tp., tỉnh Kiên Giang
- Người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 19-8-2018 và ngày 24-8-2018 cho bà H, ông C: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu phố C, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Ban Q
Trụ sở: Ấp X, xã B, Tp., tỉnh Kiên Giang
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1 - Giám đốc Ban Q.
- Người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 12-12-2022: Ông Nguyễn Ngọc C1 - Phó Trưởng Phòng quản lý bảo vệ và phát triển rừng thuộc Ban Q.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1963.
- Ủy ban nhân dân xã D
- Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1982.
- Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1989.
- Chị Nguyễn Thị Anh Đ1, sinh năm 1993
- Anh Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1995
- Chị Nguyễn Thị Tường A, sinh năm 1998
Địa chỉ: Khu phố 1, P.Dương Đông, Tp.Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Trụ sở: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
- Người đại diên theo pháp luật: Bà Võ Hồng L - Chủ tịch UBND xã.
Các đương sự cùng địa chỉ: Tổ B, ấp S, xã D, Tp ., tỉnh Kiên Giang
- Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông C là ông Vũ Văn T.
(Tại phiên toà ông Vũ Văn T có mặt, còn lại các đương sự khác vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Dương Văn C trình bày:
Năm 1988 gia đình ông C đến Tổ E, ấp S, xã D, huyện (Nay thành phố) Phú Quốc khai phá khoảng 05 ha đất, làm nhà và lập vườn. Năm 1995 Ban quản lý Rừng Phòng hộ huyện Q cho rằng nằm trong quy hoạch đất rừng, ngày 27-12-1995 ông C ký hợp đồng giao khoán đất rừng trên diện tích 05 ha, Lô B, Tiểu khu A. Có làm biên bản giao thực địa, có thống kê chất lượng rừng được Ban N, UBND xã D xác nhận. Hợp đồng không có thời hạn, nếu hủy bỏ hợp đồng thì phải báo trước 06 tháng, gia đình ông C đã đầu tư vốn, công sức để bảo vệ rừng.
Năm 2010 phát hiện ông Đỗ Văn T2 vào vị trí này chặt phá cây, chiếm đất. Ông C có khiếu nại, tố cáo hành vi ông T2 đến cơ quan có thẩm quyền và Ban quản lý rừng Phòng hộ thì ông T2 dừng lại. Năm 2015 ông T2 tiếp tục cho người vào san ủi, ông C tiếp tục khiếu nại thì ông T2 đưa ra bản hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng vào ngày 01-5-2003, giữa ông T2 với Ban Q. Hợp đồng giữa ông C với Ban Q đang còn hiệu lực, chưa thanh lý. Nhưng lại ký hợp đồng với ông T2, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông C.
Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995 giữa Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P). Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng ngày 01-5-2003 giữa ông Đỗ Văn T2 với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P)
*Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Hồ Thúy H trình bày:
Năm 1988 gia đình bà H đến Tổ E, ấp S, xã D, huyện (Nay thành phố) Phú Quốc khai phá khoảng 05 ha đất, làm nhà, lập vườn, đào ao nuôi cá. Năm 1995 Ban quản lý Rừng Phòng hộ huyện Q cho rằng nằm trong quy hoạch đất rừng, ngày 27-12-1995 ông Nguyễn Văn T4 (Tuyến, T5 là chồng bà H chết năm 2018) ký hợp đồng giao khoán đất rừng trên diện tích 05 ha, Lô B, Tiểu khu A. Có làm biên bản giao thực địa, có thống kê chất lượng rừng được Ban N, UBND xã D xác nhận. Hợp đồng không có thời hạn, nếu hủy bỏ hợp đồng thì phải báo trước 06 tháng, gia đình bà H đã đầu tư vốn, công sức để bảo vệ rừng.
Năm 2010 phát hiện ông Đỗ Văn T2 vào vị trí này chặt phá cây, chiếm đất. Ông C có khiếu nại, tố cáo hành vi ông T2 đến cơ quan có thẩm quyền và Ban quản lý rừng Phòng hộ thì ông T2 dừng lại. Năm 2015 ông T2 tiếp tục cho người vào san ủi, ông C tiếp tục khiếu nại thì ông T2 đưa ra bản hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng vào ngày 01-5-2003 giữa ông T2 với Ban Q, ông T2 được giao 36,5ha, tại tiểu khu A là chồng lên vị trí giao khoán của ông T4 là chồng bà H. Hợp đồng giữa ông T4 với Ban Q đang còn hiệu lực, chưa thanh lý. Nhưng lại ký hợp đồng với ông T2, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bà H.
Nay ông Nguyễn Văn T4 đã chết, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995, giữa Ban Q với ông Nguyễn Văn T4. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng ngày 01-5-2003 giữa ông Đỗ Văn T2 với Ban Q
(Các con chung giữa ông T4, bà H gồm: Anh Nguyễn Văn P1, chị Nguyễn Thị Anh Đ, chị Nguyễn Thị Anh Đ1, anh Nguyễn Quốc T3, chị Nguyễn Thị Tường A là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thống nhất theo nội dung đơn kiện của bà H, không có yêu cầu khác)
*Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Vũ Văn T làm đại diện theo ủy quyền của ông C, bà H trình bày:
Thực tế hợp đồng ngày 27-12-1995 giữa ông T3, ông C với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P) về việc giao khoán đất rừng cho hộ gia đình, đối với ông C là 05 ha đất, thuộc Lô B, còn bà H là vợ ông T3 cũng 05 ha đất, Lô 21C đều thuộc tiểu khu A vẫn còn hiệu lực, vì các bên chưa lập biên bản thanh lý hợp đồng.
Đối với bản hợp đồng ngày 01-5-2003, giữa ông Đỗ Văn T2 với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P) là không có giá trị pháp lý. Vì vị trí đất ông T2 giao khoán nằm tại vị trí đất ông C, bà H đã được giao khoán trước đó. Hiện tại vị trí đất này không xác định được ranh giới, vì hiện trạng bị thay đổi, vì thời gian sau này nhiều người vào khu vực này bao chiếm trái phép để làm nhà, lập vườn....đến nay thì toàn bộ diện tích đất này UBND xã D đã rào lại bằng tôn, khung sắt tiền chế, cấm không cho người dân vào khu vực này canh tác đất.
Nay ông T được ông C, bà H ủy quyền, xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của bà H, ông C về việc hủy bỏ hợp đồng ngày 01-5-2003, giữa ông Đỗ Văn T2 xác lập với Ban Q. Chỉ yêu cầu HĐXX công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995 giữa ông T3, ông C với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P) tại Lô B, Lô B, tiểu khu A, thuộc ấp S, xã D, thành phố P. Ông T không khai nại thêm tình tiết mới, không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới.
*Tại công văn số 140/BQLRPHPQ-PKT ngày 27-5-2019 và Công văn số 269/ BQLRPHPQ-PKT ngày 26-12-2019, Ban Q trình bày:
Vào năm 1995 Ban Q bảo vệ nguồn nước P, có tiến hành giao khoán bảo vệ rừng cho người dân sống ven rừng. Trong đó có hộ ông Nguyễn Văn T6, diện tích 05 ha, Lô B; Ông Dương Văn C, diện tích 05 ha, Lô B, đều thuộc Tiểu khu A, tại ấp S, xã D, huyện P. Theo nội dung hợp đồng, hàng năm có nghiệm thu và thanh toán tiền công bảo vệ rừng cho các hộ gia đình đã ký hợp đồng, thời điểm đó không nói thời hạn hợp đồng là bao nhiêu năm, chỉ thể hiện hợp đồng có hiệu lực ngày 27-12-1995.
Thời điểm Ban Q bảo vệ nguồn nước P ký hợp đồng với ông T6, chưa được UBND tỉnh giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng lại ký hợp đồng giao khoán với hộ gia đình. Việc giao khoán không có sơ đồ tọa độ, không xác định được vị trí đất giao khoán và Ban Q chưa thành lập, nên không ký hợp đồng với ông T6. Mặt khác, Ban quản lý rừng phòng hộ môi sinh bảo vệ nguồn nước P giải thể từ năm 1998. Ngày 18-6-1998 UBND tỉnh K, mới thành lập Ban Q và giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 06-3-2002 UBND tỉnh K thành lập Ban Q, năm 2003 triển khai chương trình của Chính phủ trồng 5 triệu ha rừng, Ban Q đã giao khoán cho 14 hộ, người đứng đại diện cho 14 hộ là ông Đỗ Văn T2, diện tích 36,5ha, thuộc tiểu khu A, thời hạn giao khoán là 50 năm, theo nghị định số 01/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ.
Thời điểm giao khoán, hiện trạng là rừng tràm thưa, đồng cỏ và bưng ngập nước. Các hộ dân tự bỏ vốn để trồng lại rừng theo quy định, ranh giới vị trí được xác định rõ ràng trong hồ sơ ngoài thực địa. Từ năm 2003 đến năm 2015, BQL rừng phòng hộ P2 không nhận được yêu cầu nào từ ông Nguyễn Văn T6 (Chồng bà Hồ Thúy H), cũng như ông Dương Văn C. Đến tháng 6-2015 mới nhận được đơn yêu cầu giải quyết từ các hộ do bà H, ông Chi ủy q. BQL rừng phòng hộ P2 có báo cáo với Sở N1, Sở có chỉ đạo cho Thanh tra Sở xác minh vụ việc, báo cáo cho UBND tỉnh K.
Sau khi triển khai thực hiện xong công trình rà soát cấm mốc ranh rừng phòng hộ, UBND tỉnh K đã ban hành quyết định số: 2600/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2012 về việc thu hồi đất, giao đất cho UBND xã D, huyện P quản lý. Thực hiện quyết định trên, năm 2013 BQL rừng phòng hộ P2 đã tiến hành ban giao đất rừng về cho UBND xã D (Trong diện tích bàn giao có ông Đỗ Văn T2 làm đại diện, diện tích nhận khoán là 36,5 ha), hiện tại toàn bộ diện tích đất này không thuộc quyền quản lý của BQL rừng phòng hộ P2.
*Tại biên bản lấy lời khai ngày 13-02-2023, Chủ tịch UBND xã D trình bày:
Theo đơn kiện của bà Hồ Thúy H, ông Dương Văn C khởi kiện BQL rừng phòng hộ P2, để tranh chấp hợp đồng ngày 27-12-1995 và hợp đồng ngày 01-5-2003 giữa ông Đỗ Văn T2. Toàn bộ diện tích đất thuộc tiểu khu A, tại ấp S, xã D, thành phố P đã bị UBND tỉnh K thu hồi theo quyết định số: 2600/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2012 về việc thu hồi đất, giao đất cho UBND xã D, huyện P quản lý, trong đó có 14 hộ dân do ông Đỗ Văn T2 làm đại diện.
Hiện tại toàn bộ diện tích đất này được sự chỉ đạo của Thường trực Thành ủy, UBND thành phố P, UBND xã D đã rào lại bằng tôn, khung sắt, nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân có hành vi tác động đến thửa đất này. Trong năm 2020 có một số hộ dân vào bao chiếm, xây dựng nhà, trồng cây, UBND xã D phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tháo dở, di dời... Không xác định được hiện trạng sử dụng đất các hộ dân được giao khoán, không thể tiến hành thẩm định vị trí... hiện tại vị trí này là rừng chồi tự nhiên, không có thành quả lao động. Tòa án xử lý vụ án, UBND xã đề nghị không công nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nào.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, bà Hồ Thúy H về việc công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995 giữa Ban Q bảo vệ nguồn nước P (Nay là Vườn Quốc Gia P)
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, bà Hồ Thúy H về hủy hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 01-5-2003 giữa ông Đỗ Văn T2 với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 10/5/2023, người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông C là ông Vũ Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thúy H và ông Dương Văn C, công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27/12/1995 giữa Ban Q bảo vệ nguồn nước P với ông Dương Văn C và ông Nguyễn Văn T6 – Bà Hồ Thúy H có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H và ông C là ông Vũ Văn T giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn Ban Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Vũ Văn T. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Vũ Văn T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Vũ Văn T về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Đối với kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Vũ Văn T về quyền kháng cáo không đúng quy định tại Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn kháng cáo và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm, tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo này là phù hợp.
Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung kháng cáo của bản án sơ thẩm:
Ông Vũ Văn T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thúy H, công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27/12/1995 giữa Ban Q bảo vệ nguồn nước P với ông Nguyễn Văn T6 – Bà Hồ Thúy H có hiệu lực pháp luật.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy; ngày 27-12-1995 Ban Q về nguồn nước P, có ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng với ông Dương Văn C, ông Nguyễn Văn T4 (Tuyến, T6 chết năm 2018 là chồng bà Hồ Thúy H). Nội dung hợp đồng, giao cho ông C, ông T4 mỗi người bảo vệ 05 ha đất rừng, ông T4 bảo vệ Lô 21, ông C bảo vệ Lô 22, thuộc Tiểu khu A, tại ấp S, xã D, huyện (nay thành phố) P. Trả tiền công bảo vệ hàng năm, theo hợp đồng các bên xác định trả được 02 năm (từ 1995 đến 1997). Hợp đồng không nêu thời hạn giao khoán bảo vệ rừng. Theo nội dung hợp đồng, giữa các bên giao kết có nội dung bảo vệ rừng (Tức trông giữ rừng), BQL rừng phòng hộ môi sinh bảo vệ nguồn nước P có chi trả tiền bảo vệ rừng đến năm 1998. Đến ngày 01-5-2003, BQL rừng phòng hộ P2 ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng với ông Đỗ Văn T2, giao cho ông T2 36,5 ha đất trong đó có diện tích đất trước đó đã giao khoán cho ông C, ông T4 bảo vệ. Đáng lẽ trước khi giải thể (năm1998) BQL rừng phòng hộ môi sinh bảo vệ nguồn nước P thì BQL rừng phòng hộ môi sinh bảo vệ nguồn nước P phải thanh lý hợp đồng với ông C, ông T4 mới đúng. Sau khi UBND tỉnh K thành lập BQL rừng phòng hộ P2, nay sáp nhập vào Vườn Quốc Gia P thì hợp đồng giao khoán giữa các bên cũng chưa được thanh lý. Đến ngày 01-5-2003 lại tiếp tục giao khoán 36,5 ha đất cho ông Đỗ Văn T2, trong có có 05 phần đất đã giao khoán cho ông C, ông T4.
Tuy hợp đồng giữa các bên chưa được thanh lý, nhưng đến ngày 01-5-2003 thì BQL rừng phòng hộ P2 ký hợp đồng giao khoán lại cho ông T2 vị trí đất này, cho đến năm 2012 thì UBND tỉnh K đã ban hành quyết định thu hồi đất và giao cho UBND xã D quản lý, đến năm 2018 thì hợp đồng ngày 01-5-2003 giữa ông T2 với BQL rừng phòng hộ P2 đã được thanh lý xong. Từ năm 1998 đến năm 2015 ông C, ông T4 không khiếu nại gì đối với hợp đồng giao khoán giữa BQL rừng phòng hộ môi sinh bảo vệ nguồn nước P, cho đến tháng 6-2015 ông C, bà H (Vợ ông T4) mới yêu cầu xem xét. Tại thời điểm ông T4, ông C giao kết hợp đồng ngày 27-12-1995 giữa B bảo vệ nguồn nước P, thì đơn vị này cũng chưa được cấp có thẩm quyền là UBND tỉnh K giao đất, cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, nên đơn vị này không có thẩm quyền để giao kết hợp đồng giao khoán với ông T4, ông C. Do vậy, tuy hợp đồng giữa các bên đến nay chưa được thanh lý, nhưng thực tế không phát sinh hiệu lực pháp luật, để buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng này.
Toàn bộ diện tích đất này Vườn Quốc Gia P không thực hiện quyền quản lý từ năm 2013 (Có biên bản bàn giao thực địa giữa Vườn Quốc G với UBND xã D). Lời trình bày của Chủ tịch UBND xã D cũng xác định, hiện tại Thành ủy, UBND thành phố P chỉ đạo UBND xã D lại vị trí đất này, nghiêm cấm mọi hành vi tác động vào vị trí đất này theo quy định của nhà nước, khi thẩm định tại chỗ ngày 15-9-2019 bên nguyên đơn không xác định được vị trí đất giao khoán. Như vậy, ông C, bà H cho rằng có khai phá sử dụng thửa đất này từ năm 1989 thì có quyền cung cấp chứng cứ, giấy tờ khai phá đất hợp pháp, sơ đồ vị trí đất có đăng ký kê khai đo đạc tại cơ quan nhà nước, có quyền yêu cầu đến UBND xã D để được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[4] Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thúy H về việc công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995 giữa Ban Q bảo vệ nguồn nước P là phù hợp.
[5] Tại phiên toà phúc thẩm, ông Vũ Văn T đại diện cho bà H kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Vũ Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đối với phần kháng cáo của ông T với tư cách là đại diện theo ủy quyền của ông Dương Văn C, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm do ông C không đồng ý ủy quyền cho ông T kháng cáo.
[6] Về chi phí thẩm định: Vào ngày 25-7-2019 ông Vũ Văn T làm đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thúy H, ông Dương Văn C cùng vợ Nguyễn Thị M đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ cho Tòa án số tiền 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng). Tòa án đã thực hiện thẩm định tại chỗ ngày 15-9-2019, có phối hợp với lực lượng hỗ trợ tư pháp. Tuy nhiên, không được do đương sự không xác định được vị trí đất, Tòa án đã thanh toán chi phí 1.000.000đ (Một triệu đồng), còn lại 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu đồng), ông Vũ Văn T liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, nhận lại số tiền 39.000.000₫ (Ba mươi chín triệu đồng) là phù hợp theo các Điều 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Về án phí dân sự:
[7.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Văn C, bà Hồ Thúy H khởi kiện không được Tòa chấp nhận nên mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá gạch 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tuy nhiên tại phiên toà phúc thẩm, ông T đại diện theo ủy quyền của ông C bà H có đơn đề nghị được miễn án phí lý do ông bà thuộc trường hợp người cao tuổi. Vì vậy, ông C bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho bà Hồ Thúy Hằng s tiền đã nộp tạm ứng án phí là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002477, ngày 08-4-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Hoàn trả lại cho ông Dương Văn C số tiền đã nộp tạm ứng án phí là tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008189 ngày 12-12-2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[7.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Hồ Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên do bà H là người cao tuổi nên không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Ông Dương Văn C không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm đã thông báo cho ông Vũ Văn T nộp tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là chưa phù hợp. Nên trả lại cho ông T số tiền tạm ứng nêu trên là phù hợp với pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Không chấp nhận nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Vũ Văn T.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Vũ Văn T.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ các Điều 147; 157; 158; 227; 228; 244; 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 2, Điều 1; Điều 4 Nghị định số 01-CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ về giao khoán đất sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
- Áp dụng các Điều 2, 15 Pháp lệnh về hợp đồng dân sự năm 1991;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, bà Hồ Thúy H về việc công nhận hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 27-12-1995 giữa Ban Q bảo vệ nguồn nước P (Nay là Vườn Quốc Gia P)
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn C, bà Hồ Thúy H về hủy hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng ngày 01-5-2003 giữa ông Đỗ Văn T2 với Ban Q (Nay là Vườn Quốc Gia P).
- Về chi phí thẩm định: Ông Vũ Văn T được liên hệ với Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang nhận lại số tiền 39.000.000đ (Ba mươi chín triệu đồng).
- Về án phí dân sự:
- 4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả lại cho bà Hồ Thúy Hằng s tiền đã nộp tạm ứng án phí là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002477, ngày 08-4-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Hoàn trả lại cho ông Dương Văn C số tiền đã nộp tạm ứng án phí là tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008189 ngày 12-12-2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- 4.2 Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thúy H và ông Dương Văn C không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- Hoàn trả lại cho ông Vũ Văn T số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009453 ngày 23/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- 4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bá Kha |
Bản án số 135/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng
- Số bản án: 135/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Thúy H-Ban Q-T/c hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng
