Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 1343/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-9-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Én

Bà Nguyễn Thị Kim Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án án nhân dân quận Gò Vấp

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 585/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 482/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc A, địa chỉ: 8 đường số H, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

Bị đơn: Bà Võ Thị Bích P, cư trú tại: 8 đường số H, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là ông Lê Ngọc A trình bày: Ông và bà Võ Thị Bích P tự nguyện kết hôn năm 2014 và đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường A1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do đôi bên bất đồng quan điểm, tính cách và các vấn đề kinh tế chung của gia đình. Ông và bà P đã cố gắng tự giải quyết, hàn gắn xung đột nhưng không có kết quả. Đôi bên đã sống ly thân từ năm 2018. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên ông Ngọc A làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với bà P.

Về con chung: Ông và bà P có 01 con chung tên Lê Ngọc Đăng K sinh ngày 28/10/2016. Ông Ngọc A yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, Ông Ngọc A giữ nguyên ý kiến

Bị đơn: Bà Võ Thị Bích P vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa, bà P có mặt và trình bày: Xác nhận vợ chồng đã sống ly thân hơn 8 năm. Đôi bên không có hoạt động kinh tế chung và không duy trì giao tiếp giữa vợ chồng. Đối với yêu cầu ly hôn và con chung của nguyên đơn, bị đơn cần suy nghĩ thêm nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc ông Ngọc A yêu cầu ly hôn với bà P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 040 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường A1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/3/2014 thể hiện quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, HĐXX xét thấy: Căn cứ biên bản ghi nhận lời khai và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án thể hiện mâu thuẫn gia đình giữa nguyên đơn và bị đơn đã nghiêm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được. Đôi bên đã sống ly thân hơn 08 năm và không còn trao đổi, giao tiếp với nhau. Tòa án đã nhiều lần phân tích, động viên ông Ngọc A hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn cương quyết yêu cầu ly hôn. Hơn nữa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến làm việc nhưng vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện bị đơn thờ ơ, không quan tâm đến việc hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Xét thấy hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai phía, vợ chồng phải yêu thương tôn trọng lẫn nhau, thống nhất với nhau về suy nghĩ và quan điểm cách sống. Đôi bên phải quý trọng, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, chia sẻ, bàn bạc giải quyết các vấn đề chung thì mục đích hôn nhân mới đạt được. Nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung:

Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Lê Ngọc Đăng K sinh ngày 28/10/2016.

Căn cứ vào văn bản lập ngày 27/6/2024, trẻ Lê Ngọc Đăng K, trình bày: Hiện nay đang do ông Ngọc A chăm sóc nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở cùng với bố. Vì vậy, để bảo đảm ổn định cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng của trẻ, HĐXX quyết định giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Ngọc Đăng K sinh ngày 28/10/2016. Ông Ngọc A không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung:

Nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Ngọc A phải nộp án phí đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Ngọc A:

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Lê Ngọc A được ly hôn với bà Võ Thị Bích P

Giấy chứng nhận kết hôn số 040 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân phường A1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/3/2014 hết hiệu lực.

Về con chung:

Giao cho ông Lê Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Lê Ngọc Đăng K sinh ngày 28/10/2016. Ông Lê Ngọc A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Bà Võ Thị Bích P có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở, tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Trên cơ sở lợi ích của con, cha, mẹ, người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi cần thiết đương sự có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung:

Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, ông Lê Ngọc A phải nộp nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0013680 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp. Ông Lê Ngọc A đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Q.Gò Vấp;
  • - THA DS Q.Gò Vấp;
  • - Nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự
  • - Lưu

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1343/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1343/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đơn phương ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger