TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1342/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Phương Trinh
- Ông Dương Văn Quí
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Công Danh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/3/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 414/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Cấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Phú Đ, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Cấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu vào năm 2004, bà và ông Nguyễn Phú Đ tự nguyện đến với nhau và được Ủy ban nhân dân Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 00085, Quyển số 01/2004, cấp ngày 26/8/2004.
Thời gian đầu sống chung hạnh phúc, sau đó giữa bà và ông Đ phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn: Bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên gây gỗ nhau, không còn quan tâm, lo lắng chăm sóc cho nhau, mạnh ai nấy sống. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng giữa bà ông Đ không còn nên bà T xin dứt khoát ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phú T1, sinh ngày 22/10/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 05/11/2012. Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc T2 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi; không yêu cầu ông Nguyễn Phú Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà T cũng có đơn đề nghị Tòa án không tiếp tục tiến hành hòa giải vì ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không đến Tòa án giải quyết. Đồng thời bà xác định đã cho ông Đ nhiều cơ hội để hàn gắn đoàn tụ gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà và ông Đ ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử cho bà được ly hôn với ông Đ để ổn định cuộc sống nuôi con.
Về phía bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Nguyễn Phú Đ nhưng ông Đ vắng mặt không có ý kiến trình bày tại Tòa, nên vụ kiện được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa bà Đặng Thị Tuyết M phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định theo Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn theo quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015 tuy nhiên thời hạn giao chưa đúng quy định. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Phú Đ vắng mặt không đến Tòa án giải quyết là không thực hiện đúng quyền và nghĩa của mình và phải chịu hậu quả theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có trong hồ sơ vụ án: Bà T và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa Bà T và ông Đ phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ nhau, hiện hai vợ chồng không còn chung sống với nhau. Sau khi Tòa thụ lý vụ án bị đơn đã được Tòa án thông báo, triệu tập tham gia hòa giải nhưng bị đơn không đến Tòa, cũng không có văn bản thể hiện ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình, chứng tỏ bị đơn không quan tâm hàn gắn quan hệ vợ chồng. Vì vây căn cứ khoản 2 Điều 92 BLTTDS năm 2015 lời khai của bà T và tài liệu do Tòa án thu thập được là căn cứ để quyết định vụ án, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật HNGĐ yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Về con chung: Bà T và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Phú T1, sinh ngày 22/10/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 05/11/2012, sau khi ly hôn bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc T2, không yêu cầu ông Nguyễn Phú Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Ngọc T2 đang sống với bà T và có nguyên vọng được sinh sống cùng bà T, bị đơn không đến Tòa cũng không có ý kiến về việc giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo việc phát triển toàn diện và phù hợp với nguyện vọng của cháu Ngọc T2, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao cháu Nguyễn Ngọc T2 cho nguyên đơn chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: Không có; Nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Bởi các lẽ trên, căn cứ các Điều 56, 81 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư trú tại Cấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T và ông Nguyễn Phú Đ tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 00085, Quyển số 01/2004, do Ủy ban nhân dân Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2004 thì có đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T và ông Nguyễn Phú Đ là hôn nhân hợp pháp.
- Xét hôn nhân giữa bà T và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm, nên thường xuyên xảy ra xung đột, gây gỗ nhau. Bà T cũng nhiều lần cho ông Đ cơ hội để hai vợ chồng hàn gắn tình cảm vợ chồng đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, ông Đ vẫn không sửa đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Đồng thời bà T không còn tình cảm với ông Đ, mạnh ai nấy sống, giữa vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ khó khăn trong cuộc sống, chăm lo hạnh phúc gia đình, chăm sóc con cái. Hai vợ chồng đã ly thân thực tế không còn sống chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ dù được Tòa án nhiều lần thông báo, triệu tập tham gia hòa giải nhưng vắng mặt không đến Tòa, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T là đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông đã được pháp luật quy định nên không có căn cứ xét yêu cầu của ông Đ. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu ly hôn của của bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T đối với ông Nguyễn Phú Đ là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phú T1, sinh ngày 22/10/2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 05/11/2012. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc T2, không yêu cầu ông Nguyễn Phú Đ cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, trẻ Nguyễn Ngọc T2 là bé gái, hiện tại đang sống chung với bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T, được bà T chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng từ trước cho đến nay. Đồng thời cháu Ngọc T2 cũng có nguyện vọng tiếp tục chung sống với bà T. Do đó việc giao cháu Nguyễn Ngọc T2 cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là đảm bảo với việc phát triển tâm sinh lý của trẻ và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T không có yêu cầu ông Nguyễn Phú Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử quyết định tạm ngừng nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Đ cho đến khi có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có.
- Nợ chung: Đương sự khai không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Án phí ly hôn là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T chịu, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 179; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 khoản 3 Điều 228; Điều 233; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Phú Đ.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Phú T1, sinh ngày 22 tháng 10 năm 2004 (đã trưởng thành) và Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 05 tháng 11 năm 2012.
Giao con chung Nguyễn Ngọc T2 cho bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Tạm ngừng nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Phú Đ cho đến khi có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có.
- Nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo biên lai số BLTU/23P 0024189 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thiện Thanh T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Kim Tuyền |
Bản án số 1342/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1342/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa bà Toàn và Ông Đức
