Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 134/2024/HSST

Ngày 30/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Xuân Viện

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đăng Huy - Kiểm sát viên

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 113/2024/TLHS-ST, ngày 03/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS, ngày 16/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T; sinh ngày 18 tháng 02 năm 1964

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Phạm Văn M (đã chết); con bà Bùi Thị N (đã chết). Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Đỗ Thị S, sinh năm 1964; có 02 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1987.

- Tiền án: 02.

  • Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20 ngày 17/01/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 24/5/2000, tại bản án phúc thẩm số 904 của Toà án nhân dân Tối cao quyết định giữ nguyên quyết định theo bản án sơ thẩm sơ thẩm số 20 ngày 17/01/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Ra trại ngày 12/10/2006. Hình phạt bổ sung số tiền còn phải thi hành 11.025.000 đồng bị cáo chưa chấp hành xong.
  • Tại bản án sơ thẩm số 294 ngày 10/8/2020 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 26/02/2022.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 19/01/2024, Tổ công tác của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường T, thành phố T thì phát hiện một người đàn ông điều khiển xe mô tô có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra người đàn ông, khai tên là Phạm Văn T. Quá trình kiểm tra, T đã tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu là T) giao nộp cho Tổ công tác. T khai chất bột màu trắng trên là ma túy Heroine của T mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave vỏ màu xanh, biển kiểm soát: 20L1-7043.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T có khối lượng 0,235gam (niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 271/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,235gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, T điều khiển xe mô tô Honda Wave vỏ màu xanh, biển kiểm soát: 20L1-7043 của anh Phạm Văn T1 (sinh năm 1985, trú tại: xóm L, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, là con của T) đến khu vực phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng. Mua xong, T cất gói ma túy vừa mua được vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ F, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an phường T, T bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1 bì niêm phong chứa chất ma tuý; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có chứa bì niêm phong ban đầu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave vỏ màu xanh, đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 20L1-7043, số khung: RLHHC09093Y629728, số máy: HC09E-0628830. Hiện các vật chứng đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản Cáo trạng số 121/CT-VKSTPTN, ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 và Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 5 năm đến 6 năm tù.

Về hình phạt bổ sung (bằng tiền): Không áp dụng phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2. Hoàn trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đã qua sử dụng, BKS: 20L1 – 7043, số khung RLHHC09093Y629728, số máy: HC09E-0628830 cho anh Phạm Văn T1 quản lý, sử dụng.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Về căn cứ buộc tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 19/01/2024, tại khu vực tổ F, phường T, thành phố T, Phạm Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,235gam chất ma tuý, loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an phường T, T, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi tàng trữ 0,235gam chất ma túy loại Heroine của Phạm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 20/2000/HSST, ngày 17/01/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tại bản án phúc thẩm số 904 ngày 24/5/2000 của Toà án nhân dân Tối cao quyết định giữ nguyên quyết định của bản số 20/2000/HSST, ngày 17/01/2000 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo ra trại ngày 12/10/2006, về hình phạt bổ sung bị cáo chưa chấp hành xong. Năm 2020 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo ra trại ngày 26/02/2022. Các bản án trên chưa được xoá án tích. Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

o) Tái phạm nguy hiểm”

[3]. Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

  • Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Toà án xử phạt tù về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tuy nhiên bị cáo không biết lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân, mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời mang tính đấu tranh phòng ngừa chung. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên là có căn và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) cho bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2. Hoàn trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đã qua sử dụng, BKS: 20L1 – 7043, số khung RLHHC09093Y629728, số máy: HC09E-0628830 cho anh Phạm Văn T1 quản lý, sử dụng.

[8]. Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ: Bị cáo Phạm Văn T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực phường Q, thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo (đã đủ 60 tuổi) là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/01/2024.
  3. Về phạt bổ sung (phạt tiền): Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  4. Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Văn T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
  5. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu T1 và T2. Hoàn trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đã qua sử dụng, BKS: 20L1 – 7043, số khung RLHHC09093Y629728, số máy: HC09E-0628830 cho anh Phạm Văn T1 quản lý, sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 84/QĐ-VKSTPTN ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).

  1. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  2. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Xuân Mừng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 134/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger