|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-8-2024 V/v “tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
- Bà Mai Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 25/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Tấn T, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt);
Cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. - Bị đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
ĐCLL: Nhà trọ Trần Văn P, tổ G, khu phố D, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Tấn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Qua thời gian tìm hiểu, anh và chị Trần Ngọc H có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 13/2012 ngày 10/02/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chị H tự ý bỏ đi không chở về nữa, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân chị H chỉ chở về thăm con một lát rồi lại tiếp tục bỏ đi. Nay tình cảm không còn nên anh T yêu cầu ly hôn với chị H.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018, hiện hai cháu đang sống với anh T. Sau khi ly hôn, anh T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn chị Trần Ngọc H: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng chị H đều vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh T.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn chị H: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Tấn T, giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Trần Ngọc H; về con chung: giao cháu Hạnh T1 và Gia V cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, chị H không cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh T phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cử có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
Anh Lê Tấn T và chị Trần Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên anh T yêu cầu ly hôn với chị H. Chị H có hộ khẩu thường trú ở xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 135; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh T có đơn xin vắng mặt; bị đơn chị Trần Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Việc vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Anh Lê Tấn T xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng năm năm, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị H.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa anh T và chị H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của chị H theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do chị H vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị H đều vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn anh T đã trình bày, cũng như không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với anh T.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của anh Lê Tấn T là được ly hôn với chị Trần Ngọc H.
[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Anh Lê Tấn T thừa nhận giữa anh và chị Trần Ngọc H có 02 con chung Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018. Mặt khác, giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cân công nhận cháu Lê Thị Hạnh T1 và Lê Gia V là con chung của anh T và chị H. Hiện con đang sống với ba. Sau khi ly hôn, anh T đồng yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi ly thân, hai cháu T1 và V đã sống với ba. Hơn nữa, tại Bản tự khai ngày 24/7/2024 của cháu Lê Thị Hạnh T1 thể hiện cháu có nguyện vọng được sống với ba. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống của cháu, cần chấp nhận yêu cầu của anh Lê Tấn T là giao cháu T1 và V cho anh T được tiếp tục nuôi dưỡng.
[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Chị Trần Ngọc H có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Do anh Lê Tấn T có yêu cầu ly hôn với chị Trần Ngọc H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Tấn T. Cho ly hôn giữa anh Lê Tấn T đối với chị Trần Ngọc H.
- Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu tên Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018 là con chung của anh Lê Tấn T và chị Trần Ngọc H;
- + Tiếp tục giao cháu tên Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018 cho anh Lê Tấn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện hai cháu đang sống chung với anh T); chị Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu;
- + Anh Lê Tấn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Tấn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0006427 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, An Giang, được khấu trừ nên anh T đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lê Tấn T và chị Trần Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi gởi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |
Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Lê Tấn T. Cho ly hôn giữa anh Lê Tấn T đối với chị Trần Ngọc H. 2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu tên Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018 là con chung của anh Lê Tấn T và chị Trần Ngọc H; + Tiếp tục giao cháu tên Lê Thị Hạnh T1, sinh ngày 26/7/2011 và Lê Gia V, sinh ngày 08/8/2018 cho anh Lê Tấn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (hiện hai cháu đang sống chung với anh T); chị Trần Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu; + Anh Lê Tấn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở chị T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. 4. Về án phí sơ thẩm: Anh Lê Tấn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0006427 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, An Giang, được khấu trừ nên anh T đã nộp xong.
