Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 134/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-8-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Thịnh và ông Phạm Thanh Trà.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm: 1996
  • Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Ấp Th 1, xã L, huyện T, Đồng Nai
  • (Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T1 vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04/4/2024, các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh T1 tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2020, đăng ký kết hôn tại UBNDxã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai ngày 28/9/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp, ngoài ra do anh T1 ham mê cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Hiện nay chị và anh T1 đã không còn sống chung với nhau. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh T1 nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh A1 - sinh ngày 27/02/2021, Nguyễn Hoàng An Nh1, sinh ngày 12/12/2023. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có nợ bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.

Bị đơn anh Nguyễn Hữu T1 mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử không có ý kiến, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ gồm: Căn cước công dân (bản sao), giấy chứng nhận kết hôn (bản chính), giấy khai sinh con (bản sao); bản tự khai (bản chính).

Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản xác minh nơi cư trú của bị đơn và mâu thuẫn vợ chồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về đường lối giải quyêt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; căn cứ các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  • + Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1.
  • + Về con chung: Đề nghị giao hai con chung là Nguyễn Ngọc Khánh A1 - sinh ngày 27/02/2021, Nguyễn Hoàng An Nhiên, sinh ngày 12/12/2023 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết; đối với anh T1 nếu có tranh chấp chia tài sản chung, nợ chung đối với chị T thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác
  • + Về án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Anh Nguyễn Hữu T1 có nơi cư trú tại xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì Tòa án nhân dân huyện Tân Phú có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ kiện.

[1.2]. Chị T có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và xác định chị T là nguyên đơn, anh T1 là bị đơn.

[1.3]. Chị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh T1 tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại UBNDxã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/9/2020. Như vậy, hôn nhân giữa chị T, anh T1 được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay chị T yêu cầu ly hôn, thì Tòa án áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình để giải quyết.

Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu chứng cứ thu thập được thể hiện: Chị T yêu cầu ly hôn v ới lý do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, vợ chồng hiện nay đã không còn sống chung và không quan tâm chăm sóc đến nhau.

Qua xác minh tại địa phương đã xác định được gia đình chị T và anh T1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Chị T và anh T1 đã không còn sống chung với nhau.

Xét, chị T và anh T1 hiên nay đa không con sống chung với nhau bản thân anh T1 đa được Tòa án tống đạt hợp lê các văn bản tổ tung nhưng anh T1 vẫn không đến toa lam việc, thể hịên anh T1 không mong muốn hoa giai để vợ chồng cùng đoàn tụ sống chung.

Như vậy, có căn cứ xác định chị T và anh T1 đã vi phạm nghiêm T1 nghĩa vụ thương yêu, tôn T1, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm T1, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để chị T và anh T1 có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh Al sinh ngày 27/02/2021, Nguyễn Hoàng An Nh1, sinh ngày 12/12/2023. Khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai chái An, Nhiên. Không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ khi chị T, anh T1 không còn sống chung với nhau, chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu A1 và cháu Nh1; bản thân chị T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh T1 biết chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1 và yêu cầu được nuôi dưỡng con nhưng anh T1 không có ý kiến trình bày nên không ghi nhận được ý kiến của anh T1 đối với yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của chị T là có cơ sở chấp nhận.

Từ các căn cứ trên, để đảm bảo cho cháu A1 và cháu Nh1 phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tránh sự xáo trộn về đời sống tâm lý, Hội đồng chấp nhận yêu cầu về nuôi con của chị T giao hai cháu Nguyễn Ngọc Khánh A1 - sinh ngày 27/02/2021, Nguyễn Hoàng An Nh1, sinh ngày 12/12/2023 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tạm thời anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không đến Tòa làm việc nên không có lời khai của anh anh T1. Để đảm bảo quyền, quyền lợi của chị T, anh T1. Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung, nợ chung ra để giải quyết bằng vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000₫.

Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 144, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ánh T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T1.

- Về con chung: Giao con hai chung là Nguyễn Ngọc Khánh A1 - sinh ngày 27/02/2021, Nguyễn Hoàng An Nh1, sinh ngày 12/12/2023 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Anh Nguyễn Hũu T1 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ánh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu số 0013053 ngày 09/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú được chuyển thành án phí, chị T đã nộp đủ.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA huyện Tân Phú;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã Phú Lâm (để ghi vào sổ hộ tịch; số 57/2020; ĐK ngày 28/9/2020);
  • - Lưu HS - LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 134/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 134/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger